Bí ẩn về sự tàn sát gia súc tại Anh

Nỗi lo về sự tồn tại của một con thú lớn, hung dữ và bí ẩn bùng lên tại một vùng ở Anh sau khi người dân phát hiện xác không nguyên vẹn của 20 con cừu.

Xác của một con cừu gần cầu Devil trong dãy núi Cambrian ở xứ Wales.
Xác của một con cừu gần cầu Devil trong dãy núi Cambrian ở xứ Wales. (Ảnh: Telegraph)

Mark Davey, một người đàn ông 43 tuổi, cùng vợ nhìn thấy những xác cừu khi họ đi tới gần cầu Devil trong dãy núi Cambrian ở phía tây xứ Wales. Những con cừu xấu số tập trung tại hai khu vực cách nhau khoảng 3km. Một con vật nào đó đã xé toạc những bộ phận cơ thể cừu khiến chúng không còn nguyên vẹn, Telegraph đưa tin.
“Cảnh tượng thật rùng rợn. Tôi thấy các phần nội tạng những con cừu lộ ra ngoài, còn những mảnh cơ thể chúng nằm rải rác khắp nơi”, Davey kể.

Theo Davey, chó hoang và cáo không thể xé xác gia súc với số lượng lớn và tàn bạo như vậy.
"Ban đầu, khi thấy vài cái xác, tôi nghĩ có thể cáo và chó rừng tấn công lũ cừu. Nhưng sau đó tôi nghĩ một con vật lớn hơn cáo và chó rừng đã gây nên vụ thảm sát", Davey nói.

Người dân địa phương đồn đại rằng một con thú săn mồi đã tung hoành trong dãy núi Cambrian từ thập niên 70. Nó tấn công gia súc rất nhanh và tàn bạo. Một số nhân chứng khẳng định con vật bí ẩn có hình dáng giống hổ, báo nhưng kích thước khá lớn. Trong tháng 6/1981, người ta tìm thấy 12 xác cừu không nguyên vẹn trên một cánh đồng ở vùng này.

Vào những năm giữa thập niên 90, hiện tượng gia súc chết hàng loạt tiếp tục xảy ra. Các chuyên gia thú y tại Aberystwyth, thành phố gần dãy núi Cambrian, đã kiểm tra xác của gia súc và khẳng định con vật giết chúng có kích thước lớn hơn cáo và chó hoang. Sau đó cảnh sát đã càn quét khu vực quanh dãy núi Cambrian, nhưng họ không thấy bất kỳ con vật săn mồi nào có đặc điểm giống sự mô tả của người dân.

Theo VNE, Telegragh

Phát hiện giun thây ma kỳ dị

Các nhà nghiên cứu cho hay, những dấu vết của giun thây ma Osedax (giun ăn xương – hay còn gọi là giun zombie) vừa được phát hiện trong mẫu hóa thạch 3 triệu năm ở Ý.


Giun Osedax ăn xương cá voi ở đáy biển bằng cách dùng các mô giống rễ luồn lách và phân hủy xương lấy chất dinh dưỡng.

Các nhà khoa học thuộc Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên ở London (Anh) đã xác định được những lỗ khoan trên hóa thạch cá voi nhờ công nghệ scan.
Phát hiện được nhà khoa học Nicholas Higgs và các đồng nghiệp đăng tải trên tập sanHistorical Biology này mở ra một hướng nghiên cứu mới, cho thấy loài giun kỳ dị nói trên đã phát tán rộng trong đại dương thời tiền sử vượt quá sự tưởng tượng của con người.

Trước phát hiện này, bằng chứng đầu tiên và duy nhất cho thấy dấu vết của giun Osedax trong hóa thạch được tìm thấy ở bờ biển bang Washington (Mỹ) hồi năm ngoái.
Các nhà khoa học đang từng bước khám phá giun Osedax
Các nhà khoa học đang từng bước khám phá giun Osedax

Nhà khoa học Higgs đang nghiên cứu giun Osedax để phục vụ cho nghiên cứu tiến sĩ của mình và liên hệ với các đồng nghiệp tại Bảo tàng Lịch sử Thiên nhiên thuộc Đại học Florence của Ý.

Các nhà khoa học Ý trước đó phát hiện ra một hóa thạch cá voi với hàng chùm sinh vật hóa thạch khác vây quanh, và cho rằng một hệ sinh thái đã phát triển bao quanh bộ xương này.

Hóa thạch xương cá voi vốn là điều kiện lý tưởng cho giun ăn xương. Chính vì vậy, nhà khoa học Higgs không thể bỏ lỡ cơ hội của mình, ông bỏ công sức tới Ý và lăn vào nghiên cứu đống hóa thạch.

BBC Nature dẫn lời ông Higgs cho hay: "Chúng tôi không tìm thấy bất cứ dấu hiệu trên hóa thạch xương cá voi… nhưng tôi đã dành cả tuần ở đó để nghiên cứu tất cả các bộ sưu tập và thậm chí tôi còn tìm thấy xương trong một chiếc hộp đầy bụi bặm”.

“Số xương được thu thập hồi năm 1875, nên hẳn đã bị lãng quên từ lâu. Đó không phải mẫu xương cá voi đẹp nên cũng không được mang ra trưng bày và chẳng ai ngó ngàng tới chúng”, ông Higgs nói thêm.
Mẫu hóa thạch các voi có dấu vết của giun Osedax
Mẫu hóa thạch cá voi có dấu vết của giun Osedax

Tuy nhiên, điều đó không làm giảm nhiệt huyết của nhà khoa học Higgs. Ông trở lại London và quyết làm sáng tỏ nghi ngờ của mình bằng cách dùng công nghệ micro-CT scanner.

“Hóa thạch của giun thực sự rất hiếm. Chúng tôi không biết nhiều về tiêu bản hóa thạch của chúng vì chúng vốn là động vật thân mềm. Tuy nhiên, loài giun ăn xương lại có đặc thù riêng, nên chúng tôi có thể tìm thấy dấu vết của chúng qua các lỗ khoan trên xương cá voi”.

Giun Osedax không có miệng và ruột nhưng lại có thể tấn công vào xương cá voi bằng cách đục đẽo nhờ các mô giống rễ của mình để lấy chất dinh dưỡng (đây chính là nguồn gốc khiến chúng được đặt biệt danh giun thây ma!). Một khi giun cái đã đục vào được xương cá voi thì nó sẽ không bao giờ chui ra. Giun đực thì không phải đục đẽo gì cả vì nó sống bên trong giun cái.

Tiêu bản của chúng được phát hiện đầu tiên vào năm 2004 trên bờ biển Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.
Theo BBC, Thanh Niêncaycanhvn.tk

Kỹ năng làm tổ của chim không phải di truyền


Việc làm tổ của chim không phải là một kỹ năng tự nhiên mà là điều phải học và cải thiện dần bằng kinh nghiệm.
Theo hãng tin UPI, các chuyên gia thuộc ĐH Edinburgh (Scotland) đã quay phim những con chim Southern Masked Weaver (một loại chim sâu) ở Botswana khi chúng làm tổ trong suốt mùa sinh sản.
Kỹ năng làm tổ của các con chim thuộc loài trên khác nhau giữa tổ này với tổ kia. Một số xây tổ từ phải qua trái trong khi các con khác làm theo chiều ngược lại.
Một tổ chim Southern Masked Weaver
Một tổ chim Southern Masked Weaver
Các chuyên gia nhận thấy càng xây nhiều tổ, chúng càng đánh rơi ít lá cỏ hơn, nghĩa là việc xây tổ, đối với chúng, là một quá trình học tập.
“Nếu chim làm tổ theo khuôn mẫu di truyền, bạn sẽ nghĩ tất cả các con chim sẽ làm tổ theo cách giống nhau”, chuyên gia Patrick Walsh, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết.
“Tuy nhiên, chuyện này không phải như vậy. Chim Southern Masked Weaver đã phô bày những “biến tấu” trong cách làm tổ của chúng, cho thấy một vai trò rõ ràng của kinh nghiệm. Ngay cả với loài chim, có công mài sắt có ngày nên kim”, ông Walsh nói thêm.
Kết quả nghiên cứu được đăng trên chuyên san Behavioural Processes.
Theo Thanh Niên

Loài cá bị biến đổi gen vì vụ tràn dầu vịnh Mexico


Loài cá phổ biến trong các đầm lầy tại bang Louisiana, Mỹ, đã bị biến dạng và có thể không sinh sản bình thường do vụ tràn dầu ở vịnh Mexico năm ngoái.
Nghiên cứu do các nhà khoa học thuộc đại học Louisiana (LSU) thực hiện cho thấy loài cá killifish đang bị ảnh hưởng từ vụ việc này. Nghiên cứu được công bố trong Kỷ yếu của Viện hàn lâm khoa học Mỹ.
Phát hiện này trái ngược với suy nghĩ của nhiều người về thảm họa tràn dầu ở vịnh Mexico không ảnh hưởng nhiều đến đời sống sinh vật biển ở bang Louisiana.
Nếu như trước đây, các nghiên cứu hướng vào đo mức độ ô nhiễm dầu thì lần này, các nhà khoa học tập trung vào sự thay đổi trong gene của loài cá killifish bị ảnh hưởng ô nhiễm. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học nhận ra những hiệu ứng "dưới mức gây chết"đối với loài cá killifish.
Theo các nhà khoa học, nang, ruột và các cơ quan tim mạch của con cá đã bị hư hỏng, kích thước của chúng cũng nhỏ hơn bình thường. "Những con cá bị tổn thương khá nặng, chức năng sinh lý và sinh sản của loài cá này có dấu hiệu suy giảm", ông Fernando Galvez, một nhà sinh học ở LSU nói trên AP.
Ông Andrew Whitehead, nhà nghiên cứu hệ gene của LSU nói: "Hải sản ở Louisiana hoàn toàn bình thường. Nhưng nếu nghiên cứu về mặt sinh học của loài cá này chắc chắn chúng đã bị ảnh hưởng khi tiếp xúc với dầu và điều này sẽ ảnh hưởng đến số lượng loài cá killifish".
Theo ông Bernard Rees, nhà sinh lý học về cá từ trường đại học New Orleans cho biết, công trình chỉ ra mối quan hệ quan trọng giữa ô nhiễm dầu và các hiệu ứng sinh lý có thể xảy ra. Nhưng ông này nói rằng, còn quá sớm để cảnh báo về những tác hại hay ảnh hưởng lâu dài vì"thiên nhiên luôn có khả năng tự hồi phục và chúng ta phải chờ đợi và xem xét số lượng loài cá", ông Bernard Rees lưu ý.
Vụ tràn dầu ở vịnh Mexico xảy ra tháng 4 năm ngoái. Theo đánh giá của Hội đồng Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của Mỹ, vụ tràn dầu này kéo dài trong 87 ngày với lượng dầu tràn ước tính lên tới 4,9 triệu thùng, gây ô nhiễm nghiêm trọng tại các khu vực đầm lầy và bờ biển phía đông nước Mỹ trong phạm vi trải dài tới 1.700km, và làm hơn 6.000 con chim bị chết.
Theo Vnexpress

Cá sấu da cam


Một con cá sấu trong vườn thú tại Australia khiến mọi người sửng sốt khi da của nó chuyển sang màu da cam.

Da của Snappy chuyển từ màu xám sang màu da cam. (Ảnh: Discovery)
Herald Sun cho biết, con cá sấu mang tên Snappy sống trong vườn thú Roaming Reptiles - nơi chuyên nuôi động vật bò sát - tại Australia. Hiện tại chiều dài thân của nó vào khoảng 2,5m.
Tracey Sandstrom, một nhân viên trong vườn thú, kể rằng Snappy từng phá thiết bị lọc nước trong chuồng của nó.
"Vài tuần sau đó tôi nhận thấy da của Snappy chuyển sang màu da cam. Nhưng dường như màu da mới không gây bất kỳ ảnh hưởng gì đối với con cá sấu. Snappy vẫn ăn đều và làm mọi việc như mọi ngày", Sandstrom nói.
Một chuyên gia về cá sấu nhận định màu da của Snappy đổi màu do một thứ nào đó trong nước - như sắt, tanin hoặc tảo đỏ - bám lên da, rồi bị oxy hóa khi da khô. Chuyên gia này nói sự thay đổi màu da không tác động tới sức khỏe của Snappy và màu da của nó sẽ trở lại bình thường trong thời gian tới.
Theo Discovery, VNE

Phát hiện virus cúm H1N1 trên động vật


Các chuyên gia khoa học ở Trường Đại học California, Los Angeles – UCLA và các cộng sự của mình đã phát hiện ra bằng chứng đầu tiên của virus H1N1 trên động vật ở Châu Phi.


Trong một ngôi làng ở phía Bắc Cameroon, khoảng 89% những con lợn được nghiên cứu đã cho kết quả nhiễm virus cúm H1N1.
Ông Thomas B. Smith ở Trung tâm Nghiên cứu Nhiệt đới thuộc Trường Đại học California, tác giả chính của nghiên cứu cho biết: “Tôi rất ngạc nhiên khi thấy hầu như tất cả lợn trong làng này đều bị nhiễm virus. Châu Phi là nơi bắt đầu của một đại dịch mới. Ở đó có nhiều người trong tình trạng sức khoẻ kém, và bệnh tật có thể lây lan rất nhanh mà không nhà chức trách nào biết về nó”.
Khoảng 89% những con lợn tại Châu Phi được nghiên cứu đã nhiễm virus cúm H1N1
Khoảng 89% những con lợn tại Châu Phi được nghiên cứu đã nhiễm virus cúm H1N1
H1N1 gây đại dịch ở người vào mùa xuân năm 2009, trên 200 quốc gia. Theo thống kê từ các Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh tại Mỹ, ước tính có khoảng 60 triệu người mắc bệnh, 270.000 trường hợp nhập viện và 12.500 ca tử vong. Virus này, tên khoa học gọi là cúm A (còn gọi là H1N1), được hình thành từ các nhân tố di truyền giữa virus cúm ở lợn, cúm gia cầm và người. Những con lợn ở Cameroon bị nhiễm bệnh từ người, các nghiên cứu gia cho biết.
Kevin Njabo, chuyên gia nghiên cứu ở Khoa sinh học thuộc Trường Đại học California, Giám đốc trung tâm nghiên cứu nhiệt đới của UCLA cho biết. “Tôi đã bị sốc khi phát hiện đó là virus H1N1. Bất kỳ virus nào trên thế giời này đều có thể lan sang đại lục khác chỉ trong vòng vài ngày thông qua việc đi lại bằng đường hàng không. Chúng tôi cần hiểu được virus bắt nguồn từ đâu, và chúng lây lan như thế nào, như vậy chúng tôi mới có thể tiêu diệt triệt để loại virus trước khi chúng lây lan. Chúng tôi phải được chuẩn bị cho 1 đại dịch, nhưng lại có quá nhiều quốc gia đã không chuẩn bị kỹ lưỡng vấn đề này, thậm chí ngay cả Mỹ”.
Các nhà khoa học đã sử dụng xét nghiệm chẩn đoán có tên ELISA – một loại xét nghiệm miễn dịch liên kết enzim – để kiểm tra những loại virus tiềm tàng. ELISA cho biết những con lợn này có dòng virus H1N1 của người.
Những virus ở lợn có thể trộn lẫn vào một dòng virus nguy hiểm hơn nhiều, có thể lây lan cực nhanh, Smith và Njabo cảnh báo.
“Chúng tôi đang nghiên cứu bề mặt chung giữa các virus ở người, động vật hoang dã và gia súc và cách thức các virus di chuyển giữa những đối tượng này”, Njabo cho biết.
“Dòng virus H1N1 đặc biệt này xuất hiện ở khắp mọi nơi”, Giáo sư Smith đến từ Trường Đại học California cho biết. “Khi các dòng virus cúm khác nhau được trộn lẫn vào loài lợn, như dòng virus cúm gà cộng với virus ở người, thì bạn có thể có được những dòng virus lai mới có thể tác động đến con người nghiêm trọng hơn và có thể tạo ra đại dịch dẫn đến lây nhiễm từ người sang người”.
Smith và Njabo lưu ý rằng, vào thế kỷ 20, thế giới đã trải qua 3 trận đại dịch cúm, khiến tổng cộng hơn 40 triệu người đã tử vong.
Ngoài nghiên cứu loài lợn, Njabo và các đồng nghiệp của mình còn thu thập các mẫu từ hàng trăm loài chim, vịt và gà hoang dã ở Cameroon và Ai Cập để nghiên cứu. Các cộng sự của họ cũng đang thực hiện nhiều nghiên cứu tương tự tại Trung Quốc, Bangladesh và nhiều nơi khác. Smith và Njabo cùng Phòng Thí nghiệm Sinh học Toàn cầu thuộc Trường Đại học California và giáo sư Hilary Godwin thuộc Trường Y tế Cộng đồng thuộc Trường Đại học California đã hợp tác với nhau để xác định những căn bệnh mới lạ, đẩy nhanh tốc độ phát triển các loại vacxin mới và cố gắng ngăn chặn đợt đại dịch tiếp theo.

Theo Đất Việt

Bọ cánh cứng “làm thịt” cóc


Các nhà nghiên cứu tại Đại học Tel Aviv phát hiện, loài bọ cánh cứng Epomis trưởng thành có thể gây rắc rối, thậm chí là ăn thịt loài cóc săn mồi và các loài lưỡng cư.
Khi các nhà nghiên cứu đặt con bọ Epomis và cóc vào trong cùng một chiếc thùng, kết quả cho thấy con cóc bị con bọ đánh bại.
Con bọ sẽ cắn vào miệng cóc và ăn thịt cóc (Ảnh: news.discovery)
Con bọ sẽ cắn vào miệng cóc và ăn thịt cóc (Ảnh: news.discovery)
Sau khi 2 con vật đượng đặt gần nhau, con bọ bắt đầu di chuyển phần đầu và râu của mình để thu hút sự chú ý của con cóc.
Con cóc và các loài lưỡng cư thường xuyên ăn họ hàng ấu trùng Epomis, vì vậy các con cóc nghĩ rằng nó đã phát hiện một bữa ăn và bắt đầu tới gần hơn. Càng gần nó càng được, ấu trùng vẫy gọi.
Cóc thè lưỡi bắt ấu trùng nhưng khi chui vào miệng cóc, Epomis đã sử dụng mồm mình cắn vào miệng cóc và hút nước của cóc sau đó ăn thịt. Đôi khi ấu trùng chỉ được một bữa ăn nhẹ và con cóc thì bị tổn thương, tuy nhiên cóc thường trở thành một bữa ăn trưa của ấu trùng.
Thậm chí con cóc nuốt được con bọ thì nó vẫn sống trong dạ dày cóc 2 giờ và chui ra khỏi miệng rồi ăn thịt cóc.
Các nhà nghiên cứu lưu ý rằng, đây có thể là cơ chế bảo vệ trong quá trình tiến hóa của Epomis. Vì loài bọ này và ấu trùng của nó sống trong môi trường giống với động vật lưỡng cư.
Theo Đất Việt

Đẳng cấp trong xã hội ong mật


Trong xã hội ong mật, một ít ấu trùng được chọn làm ong chúa và đa số còn lại làm ong thợ, đó là nghiên cứu vừa được công bố trên chuyên san Journal of Proteome Research.
Các học sinh thường được dạy rằng, chỉ có một ong chúa trong một đàn ong và nó phát triển từ ấu trùng được nuôi bằng sữa ong chúa. Các ấu trùng còn lại phát triển thành những ong thợ đực và cái. Mặc dù ong chúa và ong thợ có các gien gần giống nhau, số phận của chúng có thể khác nhau rất nhiều.
Theo tiến sĩ Jianke Li và cộng sự, ong chúa thường có kích thước lớn và chuyên về sinh sản, trong khi các ong thợ nhỏ tham gia vào những hoạt động nhằm bảo vệ đàn của mình. Ong chúa sống 1-2 năm còn ong thợ chỉ tồn tại không quá 6-7 tuần. Để thu thập thêm thông tin, các nhà khoa học đã xem xét những protein bên trong các tế bào của ấu trùng được trù định trở thành ong chúa và ong thợ.
Họ phát hiện có những khác biệt quan trọng vào giai đoạn đầu đời, trong hoạt động của protein ở các ty lạp thể, tức những cấu trúc tạo năng lượng cho tế bào. Các khác biệt này bao gồm những thay đổi về số lượng protein được sản sinh trong tế bào và hoạt động của chúng. Ở ấu trùng ong chúa, các protein linh hoạt hơn nhiều so với ong thợ. Theo các nhà nghiên cứu, điều này cho thấy các protein có những hoạt động tăng cường sự chuyển hóa có vai trò quan trọng trong quá trình xác định đẳng cấp.
Trước đó, nghiên cứu của ông Masaki Kamakura, chuyên gia côn trùng học thuộc Trung tâm Nghiên cứu công nghệ sinh học ở Toyoma (Nhật Bản), đã xác định một protein có tên gọiroyalactin là tác nhân chính trong việc tách bạch ấu trùng ong mật để đảm nhận vai trò ong chúa.
Theo Thanh Niên

Chim cánh cụt dùng mùi hương để nhận biết bạn tình


Chim cánh cụt có thể đánh hơi mùi của bạn tình, giúp chúng tìm thấy nhau trong bầy đàn đông đúc, và cũng có thể xác định được mùi của họ hàng để tránh giao phối cận huyết.


Theo Reuters, thí nghiệm với chim cánh cụt Humboldt tại vườn thú Brookfield gần Chicago (Mỹ) lần đầu tiên đã chứng minh rằng, mùi hương đã giúp cho loài chim biển này xác định được bạn tình và họ hàng của chúng.
Khi tiến hành thí nghiệm, các nhà khoa học nhận thấy, chim cánh cụt thích và cảm thấy thoải mái với mùi hương của bạn tình hơn là những con đồng giới.
Jill Mateo, nhà tâm lý sinh học tại ĐH Chicago cho biết, có rất nhiều động vật sống trên cạn đã làm điều này.
Tiến sĩ Jason Watters đang làm việc tại Hội Động vật học Chicago cho biết, nghiên cứu này rất quan trọng, giúp chúng tôi có thể tìm được các khu vực làm tổ lý tưởng cho loài chim này. Thậm chí, nếu muốn đưa chúng về với tự nhiên cũng cần tạo một khu vực có mùi quen thuộc để chúng có thể sống dễ dàng.
Chim cánh cụt dùng mùi hương để nhận biết bạn tình

Theo Thanh Niên

Chim điên hợp tác với cá heo

Cá heo sống dưới biển, chim điên bay trên trời, nhưng chúng phối hợp với nhau rất hoàn hảo khi săn mồi.
Mỗi năm
Vào tháng 6 hoặc tháng 7 hàng năm vài trăm triệu con cá sardine di chuyển dọc theo bờ biển Nam Phi để tiến về phía bắc. Chuyến di cư này là một trong những hiện tượng kỳ vĩ nhất trong tự nhiên. Cá heo tranh thủ dịp này để kiếm mồi.
Những con cá heo
Những con cá heo phối hợp với nhau để dồn cá sardine thành một đàn lớn. Sau đó chúng lao thẳng vào đàn cá sardine với chiếc mồm há rộng để nuốt mồi.
Nhiều con cá sardine cố gắng ngoi lên mặt nước để thoát khỏi sự truy đuổi của cá heo và cá mập mà không hề biết rằng những con chim điên đang đợi chúng trên không trung.
Lũ cá heo giao tiếp với nhau bằng âm thanh có tần số cực cao để phối hợp trong quá trình săn mồi.
Đàn cá heo đồng loạt lao vào đàn cá sardine theo chiều từ dưới lên, khiến đàn cá sardine lao lên mặt nước. Những con chim điên chỉ việc đợi cá sardine ngoi lên để lao xuống.
Chim điên là những thợ lặn cừ khôi.
Chim điên là những thợ lặn cừ khôi. Từ độ cao 30 m, chúng có thể lao xuống nước với vận tốc lên tới 160 km/h và lặn tới độ sâu 12 m.
Khi lao xuống nước lũ chim điên kêu rất to.
Khi lao xuống nước lũ chim điên kêu rất to. Thị lực của chúng rất tốt nên hiếm khi chúng lao vào người hay cá heo.
Dmitry Miroshnikov, tác giả của những bức ảnh, lao xuống nước để ghi hình sau khi lũ chim điên bắt đầu cuộc tấn công.
Với những con cá heo non, đây là thời điểm tuyệt vời để quan sát hoặc thực hành kỹ năng săn mồi.
Với những con cá heo non, đây là thời điểm tuyệt vời để quan sát hoặc thực hành kỹ năng săn mồi
Theo Vnexpress

Các test chẩn đoán Progesterone trong sữa bò và ứng dụng của chúng trong lĩnh vực sinh sản bò sữa


Hàm lượng Progesterone trong sữa và huyết thanh có mối liên hệ chặt chẽ với động thái của chu kỳ sinh sản và thể trạng của bò. Vì thế, bản thân hormone này cũng như các phương pháp phát hiện nó đã được nghiên cứu nhiều năm trong lĩnh vực sinh sản của bò. Gần đây, kỹ thuật miễn dịch phóng xạ (RIA) có nhiều ưu việt khi dùng nó trong các phòng thí nghiệm để định lượng progesterone.
Phương pháp này rất chính xác nhưng cũng có nhiều trở ngại khi ứng dụng rộng rãi trên thị trường. Đó là: giá thành, người thực hiện cần được đào tạo kỹ và việc xử lý các chất thải độc hại của phản ứng. Tuy nhiên, kỹ thuật hiện nay đã giải quyết được các vướng mắc trên, ví dụ bộ test Open/Alert/Bovi-Pro 21 và việc kiểm tra nồng độ progesterone có thể thực hiện nhanh chóng và dễ dàng tại các trang trại với chi phí thấp nhất.
1-  Tóm tắt chu kỳ hoạt động của progesterone
Progesterone là hormone do thể vàng của buồng trứng tiết ra. Hàm lượng của nó tăng / giảm phụ thuộc vào sự phát triển / thoái hóa của thể vàng. Tóm tắt quá trình phát triển của thể vàng: có vài nang trứng cùng phát triển trong buồng trứng; nhưng gần đến lúc bò động dục, chỉ có 1 nang phát triển trội và chín. Việc tăng tiết Luteinizing hormone từ tuyến yên làm cho nang trứng vỡ và giải phóng ra tế bào trứng (rụng trứng). Sau khi trứng rụng, nang rỗng được máu lấp đầy. Sau 4-8 ngày, các tế bào của thể vàng có trong máu này sẽ phát triển và lấp đầy tạo nên thể vàng. Thể vàng tiết ra progesterone để từ đó đi vào trong máu và sữa. Nếu bò có chửa, thể vàng sẽ duy trì ở buồng trứng, tiếp tục tiết progesterone có tác dụng an thai. Nếu bò không chửa, thể vàng sẽ thoái hóa và ngừng sản xuất progesterone. Điều đó giúp cho bò tiếp tục có chu kỳ động dục mới, cách chu kỳ trước khoảng 21 ngày.
Điều quan trọng cần được lưu ý là lượng progesterone trong máu và sữa tăng một chậm sau khi rụng trứng. Trong phần lớn trường hợp, lượng progesterone sẽ thấp và tăng rất chậm trong vòng 4-6 ngày sau khi trứng rụng. Hàm lượng progesterone đạt cao nhất trong khoảng ngày thứ 10 đến 17 của chu kỳ động dục. ở những bò không chửa, lượng progesterone sẽ giảm đi đáng kể từ ngày thứ 18 hoặc 19. Vào thời điểm này, estrogen bắt đầu tăng do bò bắt đầu một chu kỳ mới.
2-  Các chỉ định và ứng dụng của progesterone trong sữa
Vài ứng dụng hàm lượng progesterone trong sữa:
a. Chẩn đoán không có chửa
Đã có rất nhiều nghiên cứu cho thấy việc chẩn đoán có thai sớm bằng progesterone chỉ chính xác khoảng 80%. Nguyên nhân: sự khác nhau về độ dài của chu kỳ động dục giữa các bò, các nhầm lẫn trong phát hiện động dục, bệnh tử cung (bọc mủ tử cung), hoạt động khác thường của buồng trứng (u nang thể vàng hoặc nang trứng) và phôi chết sớm. Tóm lại, việc sử dụng progesterone để chẩn đoán có thai là chưa đủ mà cần phải kết hợp với việc khám thai 40 ngày (hoặc muộn hơn) sau khi phối giống. Tuy nhiên, với một loạt các mẫu lấy vào ngày 0 (ngày phối tinh) và các ngày thứ 21 và 24, việc chẩn đoán sớm  sự không có chửa có thể đạt đến độ chính xác 95-100%. Do vậy, progesterone vốn được coi là công cụ để chẩn đoán có thai sớm nên được sử dụng cho mục đích chẩn đoán không có thai và từ đó có thể xác định được tình trạng có thai hay không của gia súc. Việc sớm xác định không có chửa này sẽ tránh được sự bỏ lỡ cơ hội phối giống tiếp theo.
b. Xác nhận động dục
Trong nhiều trường hợp, bò có thể biểu hiện các dấu hiệu động dục không rõ ràng dẫn đến việc quyết định phối giống sai. Trên thực tế, có khoảng 5% bò có biểu hiện động dục khi đang mang thai. Progesterone trong sữa có thể dùng để xác định các biểu hiện của bò mà ta quan sát được có phù hợp hay không với một con bò đang hoặc gần động dục. Nếu mẫu sữa kiểm tra cho thấy hàm lượng progesterone cao thì có vẻ như con bò đó không động dục và nó cần được theo dõi cẩn thận cũng như kiểm tra lại các mẫu lấy vào thời điểm muộn hơn.
Rất nhiều báo cáo đã chứng minh rằng vào thời điểm phối tinh có tới 15-20% bò sữa không động dục. ở một số trang trại, tỷ lệ phát hiện động dục sai có thể cao tới 50% hoặc hơn. Do vậy, ở những đàn bò không sinh sản, biểu hiện ở tỷ lệ có chửa thấp và có các bò được phối giống lặp lại quá nhiều thì cần phải xem xét lại độ chính xác của công tác phát hiện động dục. Việc này có thể tiến hành đơn giản bằng cách giữ lại mẫu sữa vào thời điểm bò được đưa ra để phối tinh cho đến khoảng 2 tuần hoặc một tháng sau. Nếu nhiều hơn 10% số bò được phối tinh vào thời điểm đó có hàm lượng progesterone cao thì có thể chứng minh được là việc phát hiện động dục không chính xác.
c. Bò có các vấn đề về sinh sản
Đó là những con không có biểu hiện chu kỳ hoặc mang thai trong thời gian dài sau khi đẻ. ở một số đàn, bò sẽ bị xếp vào loại có vấn đề về sinh sản chỉ 100 ngày sau khi đẻ mà không được phối giống. Nguyên nhân thì có nhiều và ở một số đàn nguyên nhân chỉ đơn giản là bò bị bỏ lỡ động dục và chúng bị xếp vào nhóm những con có vấn đề về sinh sản. Tuy nhiên, những con bò bị mắc các bệnh về tử cung và buồng trứng nếu được chẩn đoán và điều trị nhanh chóng sẽ giảm được thời gian và chi phí phối giống sau khi đẻ.
Progesterone trong sữa có thể dùng để chẩn đoán những rối loạn về tử cung (viêm tử cung) cho những bò này cũng như có thể ứng dụng để phân biệt trường hợp thể vàng hình thành u nang. Nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy việc khám qua trực tràng chỉ phát hiện được 65-75% trường hợp bò bị u nang buồng trứng. Do vậy, qua xác nhận kết quả chẩn đoán, có thể quyết định liệu pháp điều trị. Sau điều trị, có thể kiểm tra xem bò có phản ứng theo chiều hướng mong muốn hay không.
d. Các chương trình cấy truyền phôi
Các chương trình cấy truyền phôi đòi hỏi phải kiểm tra con cho và con nhận một cách thường xuyên. Việc gây động dục đồng pha thành công rõ ràng là bước sống còn để đạt được thành công trong quy trình cấy truyền phôi. Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng độ chính xác của việc xác định thể vàng phát triển qua khám trực tràng chỉ đạt 75-80%. Như vậy, việc sử dụng các test chẩn đoán progesterone một cách có chọn lọc ở những bò cho kết quả khám thể vàng không rõ ràng sẽ cải thiện hiệu quả của cấy truyền phôi rất nhiều do tình trạng sinh sản của bò chuẩn bị cho cấy truyền phôi được xác định đúng.
e. Tinh có giá thành cao
Do việc phát hiện động dục có thể nhầm lẫn, ngoài việc quan sát các biểu hiện động dục của bò, người ta có thể đưa việc định lượng progesterone trong sữa vào trong quy trình xác định động dục. Việc kiểm tra được tiến hành trước khi phối tinh không chỉ tránh được lãng phí tinh có giá thành cao mà còn có thể ngăn chặn được sự sẩy thai.
g. Bò sữa cao sản
Chúng ta đã biết rằng các stress gây ra do năng suất sữa cao và sự chậm trễ có liên quan đến lượng thức ăn khô ăn vào đã ảnh hưởng đến chu kỳ động dục của bò sữa. Hơn nữa, cân bằng năng lượng âm  và hoạt động của hormone giai đoạn đầu sau khi đẻ làm giảm mật độ biểu hiện động dục. Như vậy, để có bò động dục và phối giống thành công là một thách thức trong chăn nuôi bò sữa. Do các biểu hiện bên  ngoài của động dục của bò sữa cao sản có thể không rõ hoặc dễ gây nhầm lẫn, định lượng progesterone trong sữa có thể giúp phân biệt hoạt động động dục của chúng so với những con bò không có hoạt động động dục.
h. Trợ giúp trong các chương trình phối giống ở các thời điểm bị stress do khí hậu
Các stress với môi trường có tác động rất lớn đến hiệu quả sinh sản. Đặc biệt, stress nhiệt là nguyên nhân dẫn đến việc giảm nghiêm trọng tỷ lệ có chửa, tăng tỷ lệ chết phôi sớm, giảm độ dài và cường độ của các biểu hiện động dục và làm  giảm thể trọng bê sinh ra. Ngày nay người ta đã sử dụng progesterone trong sữa để trợ giúp cho các chương trình phối giống trong điều kiện gia súc bị stress do môi trường.
3-  Tóm tắt
Nhờ vào ưu điểm đối với công nghệ sinh học và chẩn đoán miễn dịch, các hệ thống định lượng progesterone trong sữa và huyết thanh đã được sản xuất và bán rộng rãi trên thị trường. Giá trị của các hệ thống này phụ thuộc vào sự hiểu biết của người sử dụng về hoạt động của progesterone trong chu kỳ động dục bình thường ở bò sữa. Các hệ thống này không thể dùng để xác định chính xác thời điểm cần tiến hành phối giống, cũng như chúng không thể dùng để chẩn đoán thai một cách đáng tin cậy. Tuy nhiên, khi sử dụng một cách hợp lý và xem xét đến các hạn chế của quy trình thì các hệ thống định lượng hormone này thực sự có giá trị trong quản lý sinh sản./.
J.K. Shearer – University of Florida
Người dịch: Nguyễn Thị Kim Anh