Lượt phượt Phú Quốc, rượt phượt Campuchia (Phần 2)

Tại cảng bãi Vòng có 2 tuyến xe bus đi về 2 trục chính của đảo Phú Quốc. Hướng Bắc đảo là chạy về thị trấn Dương Đông, dài tầm 30kms, giá là 20K/pax.

Sông Ba - Ngõ giao thương, con đường văn hóa

Cho đến tận ngày hôm nay, sông Ba vẫn được xem là mạch sống của vùng đất Phú Yên. Sông Ba là một trong những hệ thống sông lớn nhất của tỉnh Phú Yên. 

Sông Ba phát nguyên từ dãy núi Ngọc Rô (cao 1.500 mét) trên cao nguyên Kontum, chảy qua các tỉnh Kontum, Gia Lai rồi vào địa phận Phú Yên. Sông có nhiều tên gọi khác nhau qua các địa bàn của tỉnh. Phần thượng lưu chảy qua địa bàn các huyện Sơn Hoà, Sông Hinh, Phú Hoà, Tây Hoà có tên là sông Ba hay Ea Ba, Krông Pa. Phần hạ lưu từ Đồng Cam đổ ra biển ở phía Nam thành phố Tuy Hoà thì có tên là sông Đà Rằng.

Câu thơ không còn mới nhưng cũng chưa cũ đó đã phản ánh một cách chính xác tuyệt vời về vị thế "địa văn hoá" của Sông Ba - một trong những con sông lớn nhất ở miền Trung và là con sông duy nhất ở Nam Trung bộ vượt qua được dãy Trường Sơn, thông lên tận Tây Nguyên. Cũng với vị thế địa lý đó, Sông Ba đã đóng một vai trò quan trọng, đó chính là con đường giao lưu thương mại, giao thoa văn hoá của các tộc người trong tiến trình lịch sử.

Mặc dù những ghi chép về vùng đồng bằng Tuy Hoà từ thế kỷ XV trở về trước còn lại rất ít trong các nguồn sử liệu cổ, nhưng những dấu tích về khảo cổ học lại cho thấy rằng, đây là vùng đất rất phát triển dưới thời vương quốc Chăm Pa. Dọc hai bên bờ sông Đà Rằng có các di tích bia Chợ Dinh, Tháp Nhạn, Thành Hồ, Núi Bà. Đi về phía Tây xa hơn một chút có các di tích ở Sơn Giang, Củng Sơn, Krong Pa...

Di tích bia Chợ Dinh nằm dưới chân Núi Nhạn có niên đại từ thế kỷ IV. Nội dung bia nói về việc thờ cúng thần Siva - một trong những vị thần quan trọng của Ấn Độ giáo. Cho đến nay, đây là một trong những tấm bia cổ nhất nói về việc thờ thần Siva được tìm thấy ở khu vực miền Trung.

Tại di tích Thành Hồ, người ta lại tìm thấy rất nhiều đầu ngói ống trang trí mặt hề có niên đại từ thế kỷ II. Những đầu ngói này đã được các nhà nghiên cứu khẳng định là ảnh hưởng của văn hoá Hán. Trong khi đó, tại di tích Hồ Sơn đã phát hiện nhiều tấm đất nung khắc các dòng văn tự cổ có niên đại từ thế kỷ VII. Những tấm đất nung này được xác định là những lời cầu nguyện của các tu sỹ, tín đồ, thương gia dâng cúng vào các đền tháp.

Những phát hiện khảo cổ học trên cho thấy, vùng đồng bằng Tuy Hoà nói riêng và vùng hạ lưu sông Ba nói chung đã chịu ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ và Trung Quốc từ rất sớm. Quá trình ảnh hưởng đó khởi nguồn được từ các hoạt động giao thương.

Với người Chăm, sông Ba đã là con đường giao thương chính theo chiều Đông - Tây. Theo dòng sông này, một mặt họ thu mua lâm, thổ sản từ miền núi để trao đổi với thế giới bên ngoài, mặt khác đưa các đặc sản từ biển lên miền núi. Các nghiên cứu mới nhất về thương mại ở khu vực Nam Trung bộ dưới thời Vương quốc Chăm Pa cho thấy rằng, trong số các mặt hàng từ miền núi đi về miền xuôi thì trầm hương là mặt hàng quan trọng và có giá trị nhất. Vùng đất Phú Yên, Khánh Hoà từng được mệnh danh là xứ trầm hương và cũng không phải ngẫu nhiên mà cho đến tận hôm nay, thỉnh thoảng vẫn còn tìm thấy một lượng lớn trầm hương ở các vùng rừng núi phía Tây Phú Yên.

Đối với các sản vật từ dưới xuôi trao đổi lên miền núi, muối được xem là mặt hàng chiến lược. Nhiều bằng chứng đã cho thấy, đi theo thung lũng sông Ba và các con sông khác, muối không những được chuyên chở lên Tây Nguyên, mà còn đi đến tận bờ Đông sông Mekong. Các con đường giao thương đi về phía Tây vẫn được các nhà nghiên cứu gọi là "Con đường muối". Hiện nay ở Phú Yên, vẫn còn nhiều nơi làm muối hoặc các địa danh liên quan đến nghề làm muối như Tuyết Diêm, Lệ Uyên -Trung Trinh, Diêm Điền, Đèo Nại... Có thể các cơ sở làm muối hiện nay đã có từ thời Vương quốc Chăm Pa.

Mặc dù có vị trí địa lý quan trọng, nhưng các hoạt động giao thương ở khu vực sông Ba không phải là ngoại lệ mà nó là một trong những mẫu hình về giao lưu thương mại dọc theo các con sông theo chiều Đông - Tây ở khu vực miền Trung. Các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hoá trên cơ sở đối sánh, tham chiếu mẫu hình các quốc gia cổ ở Nam Á và Đông Nam Á cũng đã cho rằng, Vương quốc Chăm Pa trong quá khứ là một tập hợp gồm nhiều tiểu quốc khác nhau. Mô hình của mỗi tiểu quốc thường lấy một con sông lớn làm trục quy chiếu đi từ cửa biển lên đến thượng nguồn gồm có hải cảng - kinh thành - thánh địa.

Theo mô hình trên, tại khu vực sông Ba/Đà Rằng, hải cảng có thể nằm ở khu vực núi Nhạn, kinh thành chính là Thành Hồ, còn thánh địa được xác định là di tích Núi Bà. Trong đó, Thành Hồ ngoài vai trò là trung tâm hành chính còn là tiền đồn thông lên châu Thượng Nguyên (Tây Nguyên) dưới thời Vương quốc Chăm Pa. Chính vì thế, trong thời gian gần đây, giới khảo cổ đã phát hiện nhiều dấu tích mới về kiến trúc Chăm Pa ở phía Tây thành Hồ, trong đó có nhiều di tích nằm ở đầu nguồn sông Ba thuộc địa bàn tỉnh Gia Lai. Các cứ liệu lịch sử đó cũng cho ta một cảm nhận rằng, các mối quan hệ trên sông Ba trong quá khứ về cơ bản diễn ra theo công thức văn hoá từ dưới đi lên, hàng hoá từ trên đi xuống.

Người Việt khi vào miền Trung sinh sống đã có sự giao thoa văn hoá, tín ngưỡng với cư dân bản địa mà tiểu biểu nhất phải kể đến việc thờ cúng Thiên Y Ana. Về lĩnh vực kinh tế, người Việt đã tiếp thu các cơ sở cũng như kinh nghiệm buôn bán của người Chăm. Thương mại dựa theo trục các con sông theo chiều Đông - Tây vẫn được khai thác một cách triệt để và đã đóng vai trò thiết yếu và trở thành một mô hình kinh tế dưới thời các chúa Nguyễn cũng như nhà Nguyễn sau này.

Tại đầu nguồn các con sông, nhà Nguyễn đã đặt các trạm giao dịch và thu mua lâm thổ sản, các trạm đó gọi là nguồn. Ở sông Ba có nguồn Thạch Thành, vị trí đó nay thuộc thôn Liên Thạch xã Hoà Phú, huyện Tây Hoà. Sách Đại Nam Nhất thống chí viết: "Ở xã Thạch Thành phía tây huyện Tuy Hòa có trường giao dịch và thủ sở ở đây, nước từ sông Ba chảy qua phía Nam huyện lị đổ ra trấn Đà Diễn". Thạch Thành là vùng bán sơn địa tiếp giáp giữa đồng bằng Tuy Hòa và vùng núi. Hiện nay dấu tích về một thời giao thương vẫn còn. Một số người cao tuổi cho biết, đến đầu thế kỷ XX, vẫn thấy người Thượng cưỡi voi xuống Thạch Thành để trao đổi hàng hoá. Cũng như người Chăm trước đây, người Việt trong quá trình hoạt động buôn bán đã định cư, xen cư với người bản địa, từ đó có những mối quan hệ thân thiết vượt lên cả mối qua hệ kinh tế thông thường. Ai về nhắn với nậu nguồn/Mít non gửi xuống cá chuồn gửi lên.

Cho đến tận hôm nay, sông Ba vẫn được xem là mạch sống của vùng đất Phú Yên. Sông Ba cũng sẽ là dòng chảy nối quá khứ với hiện tại và cả tương lai.

Theo VovNews, Saigontoserco

Lượt phượt Phú Quốc, rượt phượt Campuchia (Phần 1)

Chuyến đi của bạn Nhanvan_Hoang ra đảo ngọc, ngoại lệ một chút vì sau đó qua cả Campuchia...

Phải nói là lâu lắm rồi mới có dịp về quê ăn Tết sớm như vậy, Thất nghiệp mà, đi chơi cho đã, ăn Tết cho đã. Ai nghe nói về sớm cũng nghĩ chắc thằng này làm manager nè, muốn làm thì làm, muốn nghỉ thì nghỉ. Về nhà đón cái nắng sớm của vùng núi cao, nằm lười trên giường cho tới khi đói quá mới chịu bước xuống. 

Thăm hải đăng Đảo Dấu – Hải Phòng

Lên hành lang của hải đăng đảo Dấu, phóng tầm mắt nhìn ra phía biển, sẽ thấy núi non Đồ Sơn thấp thoáng, từng đàn én chao liệng trên mặt sóng, xa xa là những con tàu lớn hiên ngang trên biển... Ai đã từng đặt chân tới Đồ Sơn mà chưa có dịp ra Đảo Dấu ắt hẳn trí tò mò chưa được thỏa mãn.

Cách bến Nghiêng chưa đầy 1km đường biển và mất 10 phút đi thuyền máy bạn sẽ đặt chân xuống hòn đảo xinh xắn này. Khác với sự ồn ào, tấp nập phía bên kia bờ, đảo Dấu vẫn giữ vẻ nguyên sơ, tự nhiên. Người xưa tưởng tượng Đồ Sơn có hình dáng như đầu rồng đang hướng về phía viên ngọc (đảo Dấu) và viên ngọc này đang là tâm điểm để khai thác tiềm năng du lịch của Đồ Sơn.

Nếu bạn là người ham du ngoạn chắc chắn sẽ là cơ hội tốt để tìm hiểu và khám phá những vẻ đẹp hòn đảo này. Xung quanh đảo là bãi đá bị sóng đánh trở nên mòn vẹt tạo ra những hình thù kỳ bí, khiến bạn phải ngạc nhiên trước những hình ảnh thiên nhiên vô tình hay hữu ý tạo nên những kiệt tác như vậy.

Đến với Đảo Dấu là đến với không gian tĩnh lặng của thiên nhiên, du khách thả hồn theo tiếng xào xạc của cây lá, tiếng sóng biển nhẹ nhàng vỗ vào bờ đá. Vượt qua đoạn đường nhỏ khoảng 20 m, du khách sẽ đặt chân đến trung tâm của đảo với những con đường uốn lượn quanh co. Hai bên đường cây cối đan xen chằng chịt khiến du khách cảm thấy mình đang lạc giữa màu xanh huyền diệu của núi rừng. Có một điều mà người dân Đồ Sơn cho là linh thiêng và thể hiện sự tôn trọng vị thần đảo: đó là không ngắt lá, bẻ cành cây trên đảo. Chính vì thế cây cối trên đảo không bị chặt phá, bốn mùa xanh tốt.

Theo con đường nhỏ khoảng gần 600m, du khách sẽ đến với hải đăng đảo Dấu. Đó là một toà nhà 2 tầng và chính giữa toà nhà là tháp đèn. Cây đèn biển hơn trăm tuổi mệnh danh là mắt ngọc của Tổ quốc lại là một nét nhìn mới lạ khác với du khách. Cao như một tháp pháo đài cổ vút lên giữa đảo và trên cùng là ngọn hải đăng chiếu xa tới 40km. Những con tàu đi biển xa khi bắt được ánh hải đăng Hòn Dấu là được trở về bến đậu.

Đèn biển đảo Dấu được người Pháp xây dựng từ năm 1892 và hoàn thành năm 1896. Tháng 6 năm 1898 đèn chính thức hoạt động và được ra thông báo Hàng hải. Ngày 15/5/1955, sau khi Hải Phòng giải phóng, bộ đội Việt Nam tiếp quản đèn biển này. Ngọn hải đăng anh hùng trên biển hằng ngày dẫn dắt tàu thuyền ra vào cảng Hải Phòng đã từng là nơi bị máy bay của đế quốc Mỹ oanh tạc. Ngày 27/4/1967 đèn bị sập hoàn toàn.

Công nhân trạm đèn đã khẩn trương dựng cột đèn bằng sắt cao 17 mét thay thế đèn bị sập để đảm bảo khôi phục hoạt động của hải đăng, phục vụ sản xuất và chiến đấu. Năm 1986 đèn được xây dựng lại trên nền móng cũ và năm 1995 được sửa chữa, khôi phục theo hình dáng ban đầu.

Ngọn hải đăng đảo Dấu đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn trên đảo. Bước lên cầu thang gỗ xoáy tiến ra hành lang của ngọn đèn, phóng tầm mắt nhìn ra phía biển, du khách sẽ thấy núi non Đồ Sơn thấp thoáng, từng đàn én chao liệng trên mặt sóng, xa xa là những con tàu lớn hiên ngang trên biển...

Theo web Hải Phòng

Kim Sơn đất ngọt...

Kim Sơn - Phát Diệm, không chỉ có nhà thờ đá. Với tôi, dải đất ven biển Kim Sơn (Ninh Bình) còn hấp dẫn bởi những người nông dân lam lũ nhưng giản dị, chân tình.

Đất cói vào mùa

Mùa này, người dân xứ biển Kim Sơn đang vào vụ thu hoạch cói rộ. Không quá nhiều cói như Nga Sơn (Thanh Hóa) nhưng ở đây cói cũng chất đầy nhà, phơi tràn từ sân, ngõ đến ven đường nên đi đến đâu cũng thấy mùi ngai ngái, dịu ngọt của cói. Cói tươi sau khi được thu hoạch về, người dân đem phơi khô, chẻ nhỏ, sau đó nhuộm thành màu vàng, tím, xanh, đỏ rồi dàn đều ra phơi. Nhìn qua, ai cũng ngỡ như một thảm hoa rực rỡ.
Không biết tự bao giờ, cây cói đã gắn bó với người dân Kim Sơn như cơm ăn, thức uống hàng ngày. Người ta bảo làm cói cũng vất vả không khác gì trồng lúa, cũng cày bừa đất, cấy cói, làm cỏ, bón phân nhưng do đất đai ở đây thích hợp với loại cây này nên diện tích cứ tăng dần theo năm tháng, hiện toàn huyện có khoảng 500 - 600ha cói, tổng sản lượng lên tới 5.500 - 6.000 tấn cói chẻ/năm.

Không chỉ đơn giản là nguyên liệu làm nên những chiếc chiếu êm ái, cói còn được người dân nơi đây tết thành những chiếc túi, mũ, bị, hộp trang trí hay những tấm thảm xinh xắn. Sản phẩm từ cói không chỉ giúp nhiều gia đình ổn định cuộc sống, làm giàu mà còn trở thành niềm tự hào của người dân đất biển, bởi nó đã được đưa đi tiêu thụ ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Ngoài cói, đất Kim Sơn còn hấp dẫn bởi bạt ngàn hoa trái, cây xanh và những cánh đồng nuôi trồng thủy sản. Ngay cả ở những vùng đất thịt nặng như Kim Mỹ, Cồn Thoi, Bình Minh, những vườn cây ăn trái sum suê cũng nối tiếp nhau, chủ yếu là nhãn, xoài, dừa, đu đủ,... Nghề trồng cây cảnh ở đây cũng khá phát triển. Dọc Quốc lộ 10 từ thị trấn Phát Diệm về tới xã Bình Minh, hai bên đường có tới hàng chục vườn cây cảnh khá quy mô. Những cây sanh, si, đa, bồ đề, hoa giấy cổ thụ được người dân tỉa tót, uốn nắn, có những chậu sanh trăm năm tuổi được rao bán với giá vài trăm triệu đồng...

Năm 1872, danh điền Nguyễn Công Trứ đã cùng bà con tới Kim Sơn quai đê lấn biển, tạo lập nên vùng đất này. Từ một miền đất hoang sơ, cằn cỗi, thưa vắng bóng người, giờ lúa, cói đã ngời xanh. Người dân Kim Sơn không ngại gian khó, hiểm nguy mà vẫn tiếp tục chinh phục thiên nhiên, thau chua rửa mặn để mở rộng những cánh đồng, đào thêm những vuông ao nuôi cá, tôm, cua... Kể từ ngày mở cõi đến nay, Kim Sơn đã có 7 lần khai khẩn, mở đất, góp phần mở rộng diện tích ra biển từ 80 - 100m/năm.

Ẩm thực phong phú

Kim Sơn nổi tiếng với các món ăn dân dã như nem (làm từ thịt nạc, trộn với thính làm bằng gạo rang giã nhỏ), bún mọc, chạo, nhưng với tôi, hấp dẫn nhất vẫn là gỏi cá nhệch. Cứ vào độ tháng 2 trở đi là Kim Sơn vào mùa bắt cá nhệch. Cá nhệch rất giống lươn, nhưng bề ngang to hơn, có con nặng tới cả kilôgam. Đây là loài cá trơn, khá dữ tợn nên đánh bắt không dễ. Cá nhệch có thể chế biến thành nhiều món như kho, rán, nấu canh chua, nhưng ưa chuộng nhất vẫn là gỏi. Sau khi bắt cá về, người ta lấy nước tro, lá tre tuốt sạch nhớt, lọc lấy thịt rồi thái mỏng, trộn với thính. Làm cá đã kỳ công, nhưng vẫn không quan trọng bằng việc nấu dấm. Đây là loại nước chấm gồm xương cá giã nhỏ, gừng, tỏi, ớt, sả, nấu cùng với mẻ. Nấu làm sao khi ăn, dấm phải đặc sánh, có màu vàng ruộm, dậy mùi thơm của các loại gia vị.

Ngay cả việc ăn gỏi cá cũng phải thong thả, từ tốn mới cảm nhận hết hương vị thơm ngon của nó. Người ta khẽ cuốn một chiếc lá sung thành cái phễu, gắp thịt cá, rau thơm các loại rồi múc dấm lên trên, đưa vào miệng từ từ thưởng thức. Không hề có mùi tanh của cá mà chỉ thấy vị béo, ngọt và bùi, vô cùng hấp dẫn.

Mỗi lần về Kim Sơn, tôi còn được thưởng thức đặc sản bún mọc. Hẳn ai cũng nghĩ, ở đâu chả có bún mọc, nhưng tôi chắc chắn bún mọc Kim Sơn rất đặc biệt, chả thế mà có hẳn một thương hiệu uy tín: bún mọc Tố Như. Cũng là tô bún rối trắng muốt, cũng là bát nước dùng trong veo, thơm lừng, nhưng bún mọc Tố Như hấp dẫn thực khách sành ăn bởi những miếng mọc vừa giòn, vừa ngọt, nước dùng thơm đậm đà vị xương hầm, ăn kèm với chả quế. Chỉ bằng những điều giản dị ấy thôi, Kim Sơn đã níu giữ bước chân người, đã trở thành một miền nhớ thẳm sâu trong ký ức.

Rời Kim Sơn, trong tôi vẫn còn vương vấn những dư vị đậm chất thôn quê, dân dã, giản dị của miền đất ngọt.

Theo Quehuong.online

Nơi tôi thấy Việt Nam đẹp nhất

Trong mắt các bạn, Việt Nam nơi nào đẹp nhất? Câu hỏi đó được chúng tôi đặt ra và các tay máy người nước ngoài trả lời bằng những hình ảnh hết sức bất ngờ: những góc ảnh thật bình dị mà với họ - những người từ phương xa - đó là nơi mang nét Việt Nam nhất. Và những hình ảnh càng đẹp hơn khi mang theo những câu chuyện nhiều cảm xúc.
Mặt hồ Ba Bể

Trong tất cả nơi chốn ở Việt nam tôi từng đến, không nơi nào gây cảm động và làm tươi mới tâm hôn tôi bằng hồ Ba Bể tuyệt với hôm ấy. Hôm đó, chúng tôi đi quay một phim karaoke với hình ảnh đẹp của Việt nam, bất ngờ có sáu phụ nữ trong trang phục truyền thống của người Tày đang chèo thuyền trên hồ phẳng lặng gần nơi chúng tôi quay. Mừng quá, chúng tôi mời hai người làm mẫu cho chúng tôi. Không ngần ngại, bất chấp nắng mưa và đạo diễn yêu cầu quay lui quay tới, hai phụ nữ này vẫn cố cười thật tươi để có hình ảnh đẹp nhất cho chúng tôi.


Bây giờ dù đã trở lại hồ Ba Bể nhiều lần kể từ khi chụp tấm ảnh này, thật khó có thể thấy lại hình ảnh người Tày mặc trang phục truyền thống ở đây, nhưng hình ảnh hai phụ nữ luôn cười và rộng lượng cứ mãi trong tâm trí tôi. Và do đó, tôi thấy Việt Nam đẹp nhất từ nơi này.

Nick Gray (Anh) đã sống ở Hà Nội tám năm, nói tiếng Việt rất sõi. Từ một giáo viên dạy Tiếng Anh, Nick chuyển sang chụp ảnh nội thất, kinh doanh, quảng cáo. Ảnh của Nick được in trong nhiều sách lịch và tạp chí.


Chữ S yêu dấu

Lần đầu tiên về miền Tây thăm Châu Đốc, tôi đã thấy được cảnh đẹp của mùa lúa Tà Pạ vùng Tri Tôn cách Châu Đốc 20km. Ngồi ngắm cảnh từ trên đồi núi, tôi ngây ngất trước một cánh đồng mênh mông lúa vàng, xanh nhiều lớp. Sau 5-10 phút, tôi thấy một cây xanh lớn và một đường đê rất ấn tượng, vẽ lên hình chữ S của nước Việt Nam yêu dấu. Và những người mẹ tảo tần với đòn gánh trĩu nặng hai vai lặng lẽ đi trên cánh đồng lúa đã gợi trong tôi thật nhiều cảm xúc.

< Đây là tấm hình gây ấn tượng mạnh trong tôi về đất nước - con người Việt Nam.

Peter Phạm sang Mỹ định cư khi còn nhỏ. Hai năm qua, Phạm chuyển về Tp. HCM hoạt động nhiếp ảnh chuyên nghiệp. Ảnh của Phạm chuyên về phong cảnh bình dị của Việt Nam - những hình ảnh mà như anh nói là "tôi không có tuổi thơ với nó nên tôi đang tìm lại tuổi thơ của mình ở đất nước của mình".

Lúc vui đùa

Ở Sapa, khi không đi học, những em bé Mông phụ bố mẹ đi bán những món quà truyền thống làm bằng tay như bóp, ví hoặc những hàng lưu niệm làm từ nguyên liệu kiếm được trong rừng. Khi không có khách, các em vui chơi bằng cách tổ chức những trò chơi dân gian khá thú vị như hình tôi chụp ở quán nước ven đường này. Những trò chơi ô quan, nhảy dây, lò cò rất hấp dẫn tôi bởi dù có khác biệt về văn hóa, lịch sử cũng như ngôn ngữ, tuổi thơ của chúng tôi cũng trải qua những giây phút như thế.

Đến Việt Nam, tôi khám phá một số thành phố lớn nhưng nơi tôi thích thú nhất là Sa Pa. Tôi một mình di chuyển từ Sài Gòn ồn ào, náo nhiệt ra Hà Nội, lên vùng cao nguyên đầy sương mù Sa Pa. Và khi đến đây, tôi có ấn tượng thú vị về một vùng đất đầy sắc màu văn hóa. Giá như bản sắc văn hóa nơi đây cứ được giữ mãi, đừng phai theo tháng ngày...

Eric Liao là giám đốc sáng tạo của một công ty thiết kế tại Singapore. Eric có sở thích đi khám phá những vùng đất, văn hóa trên thế giới nơi anh tìm thấy sự hiền hòa, đặc trưng và trên tất cả là những nụ cười thân thiện.

Người bán hàng

Hôm đó, tôi bị lạc lối trong những con phố nhỏ Hà Nội. Tôi đã đánh liều hỏi đường một người phụ nữ bán quán bún trong ngõ nhỏ ấy. Cô ấy đang bận túi bụi với việc múc từng tô bún cho khách, người đợi ăn ngồi xung quanh luôn hối thúc cô, thế nhưng cô vẫn bỏ bát bún xuống, chỉ tay hướng dẫn đường cho tôi. Cô cười vui vẻ và mọi người xung quanh cũng cười vui vẻ. Tôi cảm thấy lòng lâng lâng.

Tôi có đọc đâu đó cho rằng món ăn vỉa hè ở Việt Nam rất thú vị. Và khi đến đây, tôi lại phát hiện thêm một điều mới mẻ nữa. Món ăn vỉa hè ở Việt Nam không chỉ thú vị vì sự phong phú của gia vị mà còn nhờ sự thân thiện của con người. Đúng vậy, món ăn ngon khi xung quanh ta có sự chân tình.

Thiery Beyne (Pháp) đã chụp ảnh Việt Nam 15 năm. "Với cái nhìn của người châu Âu, tôi tìm kiếm vẻ đẹp đích thực đã không còn nữa trên đất nước chúng tôi. Việt Nam là một gam màu sắc và những sắc thái kỳ diệu, tôi đã luôn vui mừng và tiếp tục chụp ảnh không mệt mỏi về đất nước tuyệt đẹp này, và cũng là đất nước của vợ tôi" - Thiery nói.

Vệt thời gian

Chiếc xe hơi cũ trên con phố Hàng Ngang nổi tiếng của Hà Nội. Những nét hòa quyện giữa cũ và mới luôn đem lại cho tôi những cảm xúc đẹp. Tôi trân trọng những gì đi qua nhưng cũng hướng về tương lai. Hà Nội nghìn năm đẹp và duyên dáng như làn sương mù buổi sáng bên hồ Hoàn Kiếm và trải ra xung quanh, trùm lên những con đường rợp bóng cây, những phố xá đông đúc, những côn trình, hồ, công viên. Với hàng chục ngôi chùa, đình, miếu ẩn mình, với những quán ăn bên hè phố tìm lại được hương vị xưa kia, thành phố này xứng đáng để bất kỳ ai dành thời gian khám phá những kho báu trong yên lặng, an bình và quên đi âm thanh ầm ĩ, tiếng loa phóng thanh, tiếng động cơ xe máy có ở khắp nơi.
Tôi đã có không biết bao nhiêu lần cuốc bộ và đi xe gắn máy dọc ngang thành phố đang không ngừng mở rộng này. Nhưng phố cổ Hà Nội luôn ở sâu trong trái tim tôi.

Nicolas Cornet (Pháp) đến Việt Nam từ năm 1987. Từ 22 năm nay, ông đã dành phần lớn thời gian làm việc của mình giữa châu Âu và châu Á, xuất bản nhiều cuốn sách về Việt Nam như Vietnam - editions du Chêne 2004, Vietnam - a sense of place... Năm 2010, ông đã cuộc triển lãm ảnh tại Hà Nội mang tên "Hà Nội - thành phố trong nghệ thuật".

Trường Tiền

Khi tôi đang đi bộ trên cầu Trường Tiền (Huế) chiếc xích lô này chạy ngang và các em nhỏ reo lên "Hello". Tôi cũng gặp cảnh này, nụ cười này, lời chào này ở khắp Việt Nam, nhưng nơi tôi đi qua. Chiếc xe bánh bao do người phụ nữ lớn tuổi đẩy trên cầu cũng gợi cho tôi một điều thú vị: thức ăn tuyệt vời của Việt Nam, dù thưởng thức trên vỉa hè".

Tôi chụp tấm ảnh này với một sự khám phá mới, một sự khẳng định thì đúng hơn về xứ sở mà tôi đã gắn bó được mấy năm: cầu Trường Tiền chứ không phải Tràng Tiền như tôi (và nhiều người) từng nhầm lẫn.

Peter Tuckings (Úc) là nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp cho các tạp chí lớn như Conde Nast, Travel+Leisure, insight Guides (Anh), Discovery (Hong Kong). Nhiều năm qua, Peter đã đi khắp Đông Nam Á để chụp ảnh. Và ông đang có ý định cưới một cô gái Việt Nam để ở đây mãi mãi.

Nụ hôn buổi sớm

Buổi sáng nọ, trên chợ nổi gần Long Xuyên (An Giang), chiếc thuyền chở một người đàn ông và một phụ nữ lướt tới ghé một thuyền bán thức ăn sáng. Giữa tiếng ồn ào của tàu bè qua lại, người đàn ông gọi tôi ơi ới: "Hello, hello". Khi tôi giơ máy ảnh lên, anh liền khoác tay qua ôm cổ người phụ nữ và hôn chụt một cái. Người phụ nữ ngại ngùng, có lẽ lần đầu tiên cô ấy được hôn giữa chốn đông người nên đỏ mặt, chỉ biết cười. Tôi yêu giây phút này, tôi thích những người Việt nam chân chất như vậy. Tôi ít thấy người Việt hôn nhau ở nơi đông người, nhưng như vậy không có nghĩa họ không thể hiện tình yêu.

Những người đồng bằng sông Cửu Long tôi gặp đều chân chất, phóng khoáng. Đặc biệt là những người đàn ông miền sông nước gặp tôi lúc nào cũng sẵn sàng mời một ly như thể đã quen nhau từ rất lâu.

Morgan Ommer là tay máy tự do ở Hồng Kong (Trung Quốc), cộng tác viên của nhiều tạp chí lớn như Time, Vogue, Travel&Leisure. Ommer đã sang Việt Nam từ năm 1994. Năm 2010, Ommer dùng thuyền đi khắp đồng bằng sông Cửu Long để chụp ảnh.

Theo Tuổi Trẻ

Rừng U Minh - huyền thoại đã xa

Có quá nhiều huyền thoại nơi "sơn cùng thuỷ tận" U Minh. Điều rất lạ, huyền thoại nào cũng đẹp, cũng hào hùng, minh chứng cho vùng đất oanh liệt, cuộc sống đầy bất trắc, nhưng thiên nhiên bao giờ cũng đùm bọc con người vượt qua muôn vàn gian khó.

Tôi trở lại U Minh ngập tràn huyền thoại và chợt nao lòng nhận ra, dù được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, nhưng đất này còn đầy rẫy khó khăn.

Chập chờn huyền thoại
Năm nay mưa muộn. Gần hết năm mà những hạt mưa yếu ớt vẫn lướt trên ngọn tràm xào xạc. Có lẽ trời đất đã làm nên một bận nắng nóng kéo dài từ năm trước nên năm nay bù đắp lại. Những hạt mưa như sương, như khói rải đều trên cây lá U Minh Hạ. Huyền thoại cũng nương theo gió bay về...

Rằng cách đây lâu lắm, nơi đây là chốn rừng thiêng nước độc, cây cối um tùm, đầy thú dữ. Những người lớn tuổi kể rằng, rừng U Minh rắn nhiều vô kể. Có con đến cả trăm ký. Những bận cháy rừng, rắn rùa cùng với muôn thú chạy ra bìa rừng tìm nơi ẩn náu. Người dân chẳng dám đi bắt vì sợ chúng làm càn. Trong làn sương mỏng manh ấy, anh thợ săn đã giải nghệ Võ Văn Vinh mắt dõi theo cánh rừng nhớ lại: "Tôi vào rừng từ 12 tuổi. Đây là nghề cha truyền con nối. Từ trước đến giờ không nhớ đã hạ bao nhiêu con heo rừng, nai, rắn, rùa, trăn... Ngày trước, heo rừng nơi đây nhiều lắm. Đi sâu vào rừng tràm là gặp ngay. Có ngày tôi hạ đến 2 con".

Vinh nổi tiếng "liều mạng" ở cánh rừng này. Thường đi săn thú phải có bạn, còn Vinh thì không. Một mình anh cùng với cây mác và chiếc balô xuyên dưới tán rừng tràm đầy dây leo và bất trắc. Trong những chuyến đi rừng, anh đã từng gặp rắn hổ mây dài đến 20m, bò qua con mương đầu bên kia đuôi còn tận bên này. Kinh nghiệm đi rừng cho anh biết chẳng dại gì đụng chạm đến "thần rắn" U Minh. Hễ nghe phảng phất mùi tanh thì băng qua hướng khác mà đi. Anh bảo: "Mình đừng đụng chạm đến miếng ăn của "thần" thì "thần" cũng chẳng động chạm đến mình".

Đó là những lần anh em kiểm lâm làm việc tại Vườn quốc gia Vồ Dơi đóng chốt sâu trong rừng vào những ngày nắng hạn, nước trên các kênh rạch khô. Chập choạng tối, muỗi kêu rào rào như mưa, anh em phải vội vào mùng. Cũng lạ, muỗi chỉ dậy lên vào chập tối rồi thôi. Anh Nguyễn Chí Linh còn nhớ như in vào năm 1992, anh em đi tuần như mọi khi phải hoảng hồn tháo chạy vì gặp phải con rắn hổ mây bò chắn ngang lối đi. Lúc đầu tưởng cây đổ, nhưng khi nhìn kỹ lại thấy nó nhúc nhích. Anh em hô to "rắn, rắn" rồi cắm đầu bỏ chạy về chòi canh. Chưa có ai đo được rắn hổ mây dài bao nhiêu, cũng như chẳng ai dám bắt nó để cân bao nhiêu ký, nhưng theo tính toán của những người từng gặp phải gần cả 100 ký.

Gần đây thôi, vào đầu năm 2010, những cán bộ của vườn quốc gia U Minh Hạ phát hiện một con rắn lớn di chuyển từ cánh rừng phía tây sang cánh rừng phía đông, băng ngang con lộ nhựa từ trụ sở vườn quốc gia về đài quan sát. Anh Nguyễn Văn Hoà kể: "Tôi chạy xe máy gần đến đài quan sát, thì phát hiện phía trước có một khối to, đen chắn ngang di chuyển từ từ. Tôi tá hỏa tam tinh. Đứng chết trân vài phút mới định thần lại quan sát. Khoảng 15 phút, con rắn mới bò qua hết". Anh nhận định: "Chắc nó chuẩn bị lột da nên di chuyển rất chậm. Tiếc là không đem máy ảnh theo nên không ghi hình lại được".

Trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ của dân tộc, chính rừng U Minh chở che cho cán bộ, chiến sĩ hoạt động cách mạng. Những cơ sở sản xuất vũ khí, những lán trại quân y vẫn còn nằm rải rác dưới tán rừng hùng vĩ này. Giặc Mỹ đã nhiều phen "nhổ cỏ" rừng U Minh, nhưng chính những thảm thực - động vật nơi đây dang bàn tay huyền thoại chở che bom đạn. Và vì vậy, sau cuộc chiến, U Minh cũng thương tích đầy mình, dẫu chẳng được ai phong... thương binh.

Trăm năm còn lại chút này

Sau chiến tranh, rừng lại hồi sinh, xanh tươi trở lại. Nhưng mảnh đất rừng thiêng nước độc này dường như chưa hết những nỗi đau. Đó là những lần cháy lớn rừng tràm. U Minh Thượng, rồi U Minh Hạ lần lượt bị ngọn lửa hung tàn cướp đi hàng trăm hécta rừng nguyên sinh. Muông thú trong rừng tan tác theo từng làn khói trắng mịt mùng. Theo thống kê của 2 tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, những đợt cháy đã cướp đi trên 50.000ha rừng tràm. Tuy nhiên, sau những lần "bà hỏa" lấy đi đáng kể những cây tràm, nhiều vùng đất đã kịp hồi sinh trở lại. Dù vậy những cánh rừng nguyên sinh còn lại không nhiều. Hiện tại cả cánh rừng tràm (U Minh Hạ và U Minh Thượng) còn lại đúng 2.593ha rừng tràm nguyên sinh trên đất than bùn.

Ông Nguyễn Văn Thế - Giám đốc Vườn quốc gia U Minh Hạ - giải thích rõ về cái khoản diện tích chưa đến 3.000ha này: "Thật ra toàn vườn quốc gia có đến 25.000ha vùng đệm. 8.257ha là diện tích của vườn nằm trên địa bàn các xã Khánh Lâm, Khánh An thuộc huyện U Minh và các xã Khánh Bình Tây Bắc, Trần Hợi thuộc huyện Trần Văn Thời. Diện tích này được chia ra làm 3 phân khu chính, gồm phân khu bảo tồn hệ sinh thái rừng trên đất than bùn 2.593ha, phân khu phục hồi và sử dụng bền vững hệ sinh thái rừng ngập nước 5.134ha và phân khu dịch vụ hành chính với diện tích 801ha".

Ông Thế khẳng định: "Hệ sinh thái rừng tràm trên cả nước, duy nhất chỉ còn lại tại Cà Mau khoảng 3.000ha là chưa bị tác động. Nơi đây có nhiều hệ thực vật, động vật với nhiều cá thể quý hiếm có tên trong sách đỏ. Điều khá lạ là nhiều năm nay, nơi đây không xảy ra vụ cháy rừng nào. Trong khi đó, phía dưới là đất than bùn có giá trị nghiên cứu khoa học rất cao".

Điều tra của các nhà lâm sinh cho thấy, rừng U Minh Hạ có 32 loài thú, 74 loài chim, 36 loài bò sát, 11 loài lưỡng cư; 79 loài thực vật thuộc 65 chi, 36 họ, trong đó có 11 loại gỗ có giá trị kinh tế cao. Những con số ấy chưa nói lên được hết những kỳ vĩ của U Minh Hạ với nhiều huyền thoại. Là người gắn bó với cánh rừng nhiều năm, anh Nguyễn Tấn Truyền - cán bộ Phòng Kỹ thuật của Vườn quốc gia U Minh Hạ - thuộc làu từng nhóm nhỏ động - thực vật.

Anh bảo tôi: "Con số động - thực vật anh được nghe đã được thống kê từ năm 1983. Hiện nay có thể nhiều hơn. Tại đây, tôi đã từng gặp những căn nhà nai khá lớn, bắt gặp những cây tràm cổ thụ dang tay ôm không hết. Tuy nhiên, điều khá lý thú là chúng tôi gặp cả những cơ sở hoạt động cách mạng trước đây trong cánh rừng nguyên sinh này. Anh em đào lên còn thấy băng gạc nguyên vẹn, chứng tỏ đây là nơi làm quân y". Ngay như bộ sưu tập bướm của anh cũng làm tôi giật mình. Có đến gần 100 loài bướm được anh cất công bắt về nghiên cứu.

Đứng trên đài quan sát, anh chỉ tay ra phía rừng giải thích nơi đâu có nhiều nai, nhiều tràm cổ thụ, nơi nào rắn nhiều, heo rừng trú ẩn, khỉ khọt nhiều. Anh say sưa kể về những chuyến đi rừng cùng với các anh em đóng chốt phòng cháy. Những chuyến đi lấy mật ong rừng tràm. Anh chặc lưỡi: "Người ta đổ cho cánh thợ ăn ong đốt lửa khi lấy mật làm cháy rừng, nhưng tôi có cách lấy mật không cần lửa khói gì cả. Nếu như được quản lý tốt, những người gác kèo ong làm chuyện gác kèo thôi, còn những người chuyên lấy mật thì cho họ lấy sẽ hạn chế được người vào rừng và khi lấy mật có kiểm soát thì mật ong không phải là nguy cơ dẫn đến cháy rừng". Tôi nghĩ, giá như anh làm hướng dẫn viên du lịch thì tốt biết mấy. Và giật mình nhận ra du lịch nơi đây vẫn còn xa lắm.

Du lịch còn xa

Ngay từ năm 1998, khi chưa phải là vườn quốc gia, mà còn là vườn Vồ Dơi, tỉnh Cà Mau đã quy hoạch phát triển du lịch tại đây. Sau khi được công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, Vườn quốc gia U Minh Hạ mặc nhiên trở thành điểm đến trên bản đồ du lịch của cả nước. Tuy nhiên, mọi động thái cho một điểm đến được cho là lý tưởng này vẫn chưa khởi động. Giám đốc Vườn quốc gia U Minh Hạ Nguyễn Văn Thế cho biết: "Phân khu dịch vụ hành chính trên 800ha vẫn mới chỉ dừng lại ở dạng quy hoạch. Cho đến nay chưa triển khai được. Chính vì vậy, hiện tại chúng tôi chưa thể làm gì được".

Dự định của vườn quốc gia là sẽ làm nhà trưng bày thu nhỏ, trước mắt là các loài thực vật, sau đó là động vật. Bên cạnh đó, xây dựng những nhà dạng lán trại sâu trong rừng, phục vụ du khách vui chơi thưởng ngoạn gắn với các dịch vụ: Câu cá, bắt rùa, đặt trúm lươn... Tuy nhiên, cho đến nay, những dự định này vẫn còn nằm trong bản kế hoạch được đặt trên bàn của lãnh đạo tỉnh Cà Mau.

Thật ra, Cà Mau đã đầu tư trên 20 tỉ đồng để hoàn thiện hạ tầng Vườn quốc gia U Minh Hạ. Đó là những con đường từ trụ sở vườn quốc gia đến đài quan sát và những điểm dừng chân. Nhưng bấy nhiêu đó vẫn chưa thấm vào đâu với tiềm năng du lịch to lớn của cả vùng U Minh Hạ kỳ bí. Giờ U Minh Hạ đang chuẩn bị "đóng cửa rừng" để vào mùa chống cháy. Đợi mùa mưa, rừng tràm mới "mở cửa" trở lại. Và tôi hiểu, cái khó của ngành du lịch khi phải khai thác nửa mùa.

Rời U Minh Hạ, tôi buộc phải "chiêm ngưỡng" con gấu đen to đùng cạnh nhà ăn - loài thú chưa bao giờ sống trên đất U Minh - và phần nào thông cảm cho những du khách đến đây rồi chẳng bao giờ quay lại.

Nhật Hồ
Theo LaoDong