Thắng cảnh Tây Thiên - Vĩnh Phúc

Từ Hà Nội đến thị trấn Tam Đảo 80 km, rồi từ thị trấn Tam Đảo đi về phía tây 15km, bạn sẽ đến Tây Thiên. Đây là đoạn đường quanh co uốn khúc chạy men theo núi Tây Thiên giữa rừng thông với sương giăng phủ.

Danh thắng Tây Thiên nằm trong khu vực Vườn quốc gia Tam Đảo, thuộc địa bàn xã Đại Đình và một phần xã Tam Quan (Tam Đảo, Vĩnh Phúc).  Miền đất Tây Thiên có phong cảnh hữu tình với Thiền Viện Trúc Lâm, những mái đình cổ xưa, suối Vàng, Thác Bạc, khe Trường Sinh, suối Giải Oan, cây đa 9 cội..., toàn bộ khu danh thắng ở độ cao từ 54 - 1.100m so với mặt nước biển.

Khu danh lam thắng cảnh Tây Thiên có diện tích khoảng 148 ha, nằm trên sườn ngọn núi Thạch Bàn thuộc dãy Tam Đảo (Vĩnh Phúc), là một vùng đa dạng sinh học. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, hệ thực vật Tây Thiên có 130 họ, 344 chi và 490 loài, một số loài có giá trị khoa học và giá trị kinh tế đáng kể như pơ mu, la hán, sam pông…

Rừng Tây Thiên có những cây thông đã sống đến ngàn năm tuổi. Hệ động vật Tây Thiên cũng khá phong phú, có 4 lớp, 26 bộ, 86 họ và 281 loài, trong đó có những loài động vật quý hiếm như rùa vàng, gà lôi trắng, voọc đen má trắng, voọc mũi hếch, cá cóc Tam Đảo... Sự đa dạng sinh học cùng với hệ thống các đình chùa có giá trị văn hoá và khảo cổ khiến Tây Thiên thu hút khách du lịch và nhà nghiên cứu.
Đối với những ai ham thích du lịch sinh thái, Tây Thiên là một địa điểm lý tưởng cho một chuyến đi bộ giữa khung cảnh đẹp như tranh vẽ. Từ thế kỷ 18, Tây Thiên đã là một vùng danh thắng và đã được Lê Quý Đôn mô tả lại trong “Kiến văn tiểu lục”: “…bên dưới sắc nước như chàm, sâu thẳm không thấy đáy; sườn núi có chùa Tây Thiên Cổ Tự, tre xanh, thông tốt, cảnh sắc thanh nhã, rộng rãi, trên đỉnh núi cao lại có chùa Đồng Cổ, vừa lên vừa xuống phải mất hai ngày; từ phía tả khe Giải Oan trèo lên núi đến hồ sen, nước xanh biếc, trong hồ có thứ đá lạ và có sen đỏ, hoa nở bốn mùa. Hai bên ngoài hồ, suối từ sườn núi chảy ra, bên tả là suối Bạc, phát nguyên từ khe đá đỉnh núi chảy xuống trông như tấm lụa; bên hữu là suối Vàng...".

Đã qua nhiều thế kỷ, Tây Thiên vẫn giữ được những nét đẹp thiên nhiên kỳ thú. Đến đây, du khách có thể đi bộ men theo dòng suối nước róc rách trong vắt để đến với những điểm đã nổi tiếng từ lâu như bãi đá Liền, suối Tối, thác Chòi Tre, thác Bạc 5 tầng, suối Bạc, suối Vàng, suối Giải Oan, đền Cô, đền Cậu, đền Thượng Tây Thiên...
Bên cạnh những tài nguyên thiên nhiên, Tây Thiên còn có tài nguyên nhân văn phong phú. Đền Tây Thiên thờ Quốc Mẫu Tây Thiên Năng Thị Tiêu. Tương truyền, bà sinh ra là do linh khí núi cao rừng thẳm vùng Tam Đảo tụ lại mà thành. Là nguời xinh đẹp, giỏi giang, có tài thao lược, bà đã ra giúp vua Hùng Duệ Vương đánh giặc giữ nước Văn Lang. Giặc tan, bà từ chối những tước lộc Vua ban để lại lui về với núi rừng Tây Thiên. Cũng có sách nói do cảm mến sắc và tài của bà nên Hoàng tử Lang Liêu đã cưới bà làm vợ và những chiếc bánh chưng - bánh dày ra đời trong truyền thuyết cũng nhờ công sức rất lớn của bà.

Khi bà mất, nhân dân đã tôn vinh bà là Quốc Mẫu Tây Thiên và lập nhiều đền thờ. Có một chi tiết khá thú vị là nhân dân trong vùng do kỵ huý tên Bà nên thường tránh nói "tiêu tiền" mà nói thành "pha tiền". Ngoài những di tích thờ phụng Quốc Mẫu Tây Thiên, khu danh thắng này còn có nhiều ngôi chùa thờ Phật như chùa Phù Nghì, Thiên Ân, Đồng Cổ… Một số di vật như tượng đồng, chuông khánh đã có hơn 1.000 năm tuổi còn được lưu đến ngày nay.

Tây Thiên đã và đang hấp dẫn du khách mọi miền và là một trong những danh lam thắng cảnh nổi tiếng bậc nhất của tỉnh của Vĩnh Phúc. Hy vọng, khu danh thắng này sẽ được giữ gìn, khai thác một cách bền vững, để ngàn năm sau vẫn lưu danh mãi Tây Thiên.

Nguồn tin: VOV

Tháp Vàng Phốc Lốc - Bình Định

Tháp Phốc Lốc được xây từ thế kỷ XII trên một đỉnh ngọn thổ sơn tròn trịa, không cây cối, ở giữa cánh đồng lúa mênh mông, một nửa thuộc Châu Thành (Phù Cát), một nửa thuộc Nhơn Thành (An Nhơn).

Các nhà nghiên cứu người Pháp gọi nó là Tour d'Or, tức tháp Vàng. Nhìn xa trông tháp có dáng vẻ của một người khổng lồ đang ngồi thiền, bốn mùa hắt bóng lên nền trời u tĩnh. Chính cái thế tĩnh tại đó khiến người trên đường thiên lý không thể điềm nhiên lướt qua, buộc người ta cứ ngoái nhìn suốt mấy dặm dài.

Tháp Vàng Phốc Lốc thân vuông, mỗi cạnh chừng mười mét, từ đế đến đỉnh cao ước 15 mét là chạm trời xanh. Cửa chính hướng về phía đông, vòm cửa cao khoảng 6m. Ngoài cửa chính, tháp có ba cửa giả chạm phù điêu trang trí.

Ba tầng cửa choãi bên dưới, càng lên trên càng thu lại, tạo thành một hình khối giống như 3 lưỡi mác nhọn xếp nối nhau vút lên sát diềm mái.



Ở đây, mắt ta dừng lại ở một bộ diềm đá để trơn không trang trí, được đỡ bởi các cột đá ốp xung quanh thân tháp. Thẳng và vững chãi, các cột đá này kiêu hãnh từ chối mọi sự trang trí để bắt lấy bộ diềm.

Phong cách kiêu bạt đạt đến cao trào, khi ánh mắt ta chợt bị hút vào mái tháp ba tầng phía trên.

Mái tháp là sự trình diễn ngoạn mục của nghệ thuật chạm khắc tinh xảo trên các mảng tường thu hẹp dần về phía đỉnh. Mỗi mặt có cửa giả vòm nhọn, bên trên đi hoa văn lá lật xoắn đối xứng cực đẹp.
Các hàng cột ốp dọc tầng mái không để trơn như các cột ốp thân bên dưới mà được chạm hoa văn xoắn kết dài, vừa khắc sâu ấn tượng tôn nghiêm, vừa tôn vinh những vẻ đẹp cao quý và chắt lọc. Có thể nói phần mái là hình ảnh thu nhỏ của tháp chính bên dưới, như một điệp khúc, nhưng là sự lặp lại tràn đầy tinh thần sáng tạo, không chỉ tạo nên sự thăng hoa về mỹ cảm, mà còn giúp ta cảm nhận được sự phần tâm linh sâu thẳm mà các nghệ nhân xưa đã gửi gắm trong từng công trình tín ngưỡng.

Ở một địa thế đặc biệt, vừa cách xa đường thiên lý vừa ở trên đỉnh đồi cao, trải khắp bốn bên là ruộng đồng làng mạc, tháp Phốc Lốc xác lập một thế giới an nhiên tự tại. Sự an nhiên ấy ta có thể cảm nhận khi lên đến nơi tháp đang ngồi, giây phút chạm tay vào thân tháp rêu phong, bỗng thấy mình đang ở rất gần mây trắng.

Theo báo Bình Định

Lượt phượt Phú Quốc, rượt phượt Campuchia (Phần 5)

ường từ phía nam đến phía bắc đảo Phú Quốc chạy ven biển, có đoạn xuyên vườn QG - Những con đường đất đỏ xuyên rừng quanh co, mát rượi. 

Kinh thành Huế

Kinh Thành Huế là toà thành ở cố đô Huế, nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn trong suốt 140 năm từ 1805 đến 1945. Hiện nay Kinh thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hoá Thế giới.

Lịch sử

Từ thời các chúa Nguyễn, Huế đã từng được chọn làm thủ phủ xứ Đàng Trong: năm 1635-1687 Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần dựng phủ ở Kim Long ; đến thời Nguyễn Phúc Thái, Nguyễn Phúc Khoát đã dời phủ về Phú Xuân trong những năm 1687-1712; 1739-1774. Đến thời Tây Sơn, Huế vẫn được vua Quang Trung chọn làm thành kinh đô của cả nước Việt Nam thống nhất. Năm 1802, khi Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, mở đầu cho vương triều Nguyễn kéo dài suốt 143 năm, một lần nữa lại chọn Huế làm nơi đóng đô.

Ngay sau khi lên ngôi, Gia Long đã tiến hành khảo sát chọn vị trí xây thành mới, cuối cùng ông đã chọn vùng đất rộng bên bờ bắc sông Hương gồm phần đất của các làng Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hoà, An Mỹ, An Bảo, Thế Lại cùng một phần của hai con sông Bạch Yến và Kim Long làm nơi xây thành.

Về mặt phong thuỷ, tiền án của kinh thành là núi Ngự Bình cao hơn 100 mét, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, cân phân nằm giữa vùng đồng bằng như một bức bình phong thiên nhiên che chắn trước kinh thành. Hai bên là Cồn Hến và Cồn Dã Viên làm tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ (rồng xanh bên trái, hổ trắng bên phải) làm thế rồng chầu hổ phục tỏ ý tôn trọng vương quyền. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng, nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành. Kinh thành Huế được đích thân Gia Long chọn vị trí và cắm mốc, tiến hành khảo sát từ năm 1803, khởi công xây dựng từ 1805 và hoàn chình vào năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng. Trong lịch sử Việt Nam thời cận đại, công trình xây dựng Kinh Thành Huế có lẽ là công trình đồ sộ, quy mô nhất với hàng vạn lượt người tham gia thi công, hàng triệu mét khối đất đá, với một khối lượng công việc khổng lồ đào hào, lấp sông, di dân, dời mộ, đắp thành... kéo dài trong suốt 30 năm dưới hai triều vua.

Kiến trúc

Kinh Thành Huế được quy hoạch bên bờ Bắc sông Hương, xoay mặt về hướng Nam, với diện tích mặt bằng 520 ha. Kinh Thành và mọi công trình kiến trúc của Hoàng Thành, Tử Cấm Thành đều xoay về hướng Nam, hướng mà trong Kinh Dịch đã ghi “Thánh nhân nam diện nhi thính thiên hạ“ (ý nói vua quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ).

Vòng thành có chu vi gần 10km, cao 6,6m, dày 21m được xây khúc khuỷu với những pháo đài được bố trí cách đều nhau, kèm theo các pháo nhãn, đại bác, kho đạn; thành ban đầu chỉ đắp bằng đất, mãi đến cuối đời Gia Long mới bắt đầu xây gạch. Bên ngoài vòng thành có một hệ thống hào bao bọc ngay bên ngoài. Riêng hệ thống sông đào (Hộ Thành Hà) vừa mang chức năng bảo vệ vừa có chức năng giao thông đường thủy có chiều dài hơn 7 km (đoạn ở phía Tây là sông Kẻ Vạn, đoạn phía Bắc là sông An Hòa, đoạn phía Đông là sông Đông Ba, riêng đoạn phía Nam dựa vào sông Hương).

Thành có 10 cửa chính gồm:
Cửa Chính Bắc (còn gọi cửa Hậu, nằm ở mặt sau Kinh Thành).
Cửa Tây-Bắc (còn gọi cửa An Hòa, tên làng ở đây).
Cửa Chính Tây.
Cửa Tây-Nam (cửa Hữu, bên phải Kinh Thành).
Cửa Chính Nam (còn gọi cửa Nhà Đồ, do gần đó có Võ Khố - nhà để đồ binh khí, lập thời Gia Long).
Cửa Quảng Đức .
Cửa Thể Nhơn (tức cửa Ngăn, do trước đây có tường xây cao ngăn thành con đường dành cho vua ra bến sông).
Cửa Đông-Nam (còn gọi cửa Thượng Tứ do có Viện Thượng Kỵ và tàu ngựa nằm phía trong cửa).
Cửa Chính Đông (tức cửa Đông Ba, tên khu vực dân cư ở đây).
Cửa Đông-Bắc (còn có tên cửa Kẻ Trài)
Ngoài ra Kinh Thành còn có 1 cửa thông với Trấn Bình Đài (thành phụ ở góc Đông Bắc của Kinh Thành, còn gọi là thành Mang Cá), có tên gọi là Trấn Bình Môn. Hai cửa bằng đường thủy thông Kinh Thành với bên ngoài qua hệ thống Ngự Hà là Đông Thành Thủy Quan và Tây Thành Thủy Quan. Chính giữa mặt trước thành có cột cờ, được gọi là Kỳ Đài.

Bên trong kinh thành

Bên trong Kinh thành, có nhà dân, nhà các quan lại ở và phần quan trọng nhất là Khu vực Hoàng Thành - nơi ở và làm việc của vua và hoàng gia.

Hoàng thành
Là vòng thành thứ hai bên trong kinh thành Huế, nơi ở của vua và Hoàng gia, cũng là nơi làm việc của triều đình. Ngoài ra Hoàng thành Huế còn là nơi thờ tự tổ tiên và các vị vua nhà Nguyễn.
Hoàng Thành được xây dựng năm 1804, nhưng để hoàn chỉnh toàn bộ hệ thống cung điện với khoảng hơn 100 công trình thì phải đến thời vua Minh Mạng vào năm 1833, mọi việc mới được hoàn tất. Hoàng Thành có 4 cửa được bố trí ở 4 mặt, trong đó cửa chính (ở phía Nam) là Ngọ Môn.
Bên trong Hoàng thành có Điện Thái Hoà, là nơi thiết triều; khu vực các miếu thờ; và Tử Cấm thành - nơi ăn ở sinh hoạt của vua và hoàng gia. Người ta thường gọi chung Hoàng Thành và Tử Cấm Thành là Đại Nội.

Tử Cấm thành
Là vòng thành trong cùng, nằm trong Hoàng thành. Tử Cấm thành nguyên gọi là Cung Thành, được khởi công xây dựng từ năm Gia Long thứ 2 (1803), năm Minh Mạng thứ 2 (1821) đổi tên thành Tử Cấm Thành.

Thành có hình chữ nhật, cạnh nam và bắc dài 341m, cạnh đông và tây dài 308m, chu vi 1300m. Ở mặt trước, phía nam là cửa chính là Đại Cung Môn. Mặt bắc có 2 cửa Tường Loan và Nghi Phụng ,thời Bảo Đại, sau khi xây lầu Ngự Tiền Văn Phòng mở thêm cửa Văn Phòng. Mặt đông có hai cửa Hưng Khánh và Đông An, về sau lấp cửa Đông An, mở thêm cửa Duyệt Thị ở phía đông Duyệt Thị Đường. Mặt tây có 2 cửa: Gia Tường và Tây An. Bên trong Tử Cấm thành bao gồm hàng chục công trình kiến trúc với qui mô lớn nhỏ khác nhau, được phân chia làm nhiều khu vực.

Các di tích trong kinh thành

Kỳ Đài
Còn gọi là Cột cờ, nằm chính giữa mặt nam của kinh thành Huế thuộc phạm vi pháo đài Nam Chánh cũng là nơi treo cờ của triều đình. Kỳ Đài được xây dựng vào năm Gia Long thứ 6 (1807) cùng thời gian xây dựng kinh thành Huế. Đến thời Minh Mạng, Kỳ Ðài được tu sửa vào các năm 1829, 1831 và 1840.

Trường Quốc Tử Giám
Năm 1803 vua Gia Long xây dựng Đốc Học Đường tại địa phận An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, cách kinh thành Huế chừng 5 km về phía Tây, trường nằm cạnh Văn Miếu, mặt hướng ra sông Hương . Đây được xem là trường quốc học đầu tiên được xây dựng dưới triều Nguyễn. Đến năm 1908, thời vua Duy Tân, Quốc Tử Giám được dời vào bên trong Kinh thành, bên ngoài, phía Đông Nam Hoàng thành (tức vị trí hiện nay).

Điện Long An
Điện được xây dựng vào năm 1845, thời vua Thiệu Trị với tên gọi là Điện Long An trong cung Bảo Định, phường Tây Lộc (Huế) làm nơi nghỉ của vua sau khi tiến hành lễ Tịch điền (cày ruộng) mỗi đầu xuân. Đây cũng là nơi vua Thiệu Trị thường hay lui tới, nghỉ ngơi, đọc sách, làm thơ, ngâm vịnh.

Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế
Tại số 3, Lê Trực, Huế. Tòa nhà chính của viện bảo tàng chính là điện Long An xây năm 1845 dưới thời vua Thiệu Trị. Hiện bảo tàng trưng bày hơn 300 hiện vật bằng vàng, sành, sứ, pháp lam Huế, ngự y và ngự dụng, trang phục của hoàng thất nhà Nguyễn. Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế giúp người tham quan một cái nhìn tổng thể về cuộc sống cung đình Huế.

Đình Phú Xuân
Đình Phú Xuân được xây dựng nửa đầu thế kỷ XIX ở tổng Phú Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế; nay thuộc phường Tây Lộc, thành phố Huế, cách trung tâm thành phố 2km về phía bắc.

Hồ Tịnh Tâm
Hồ Tịnh Tâm là một di tích cảnh quan được kiến tạo dưới triều Nguyễn. Trước đây, hồ nguyên là vết tích của đoạn sông Kim Long chảy qua Huế. Đầu thời Gia Long, triều đình cho cải tạo một số đoạn sông và khơi dòng theo hướng khác để tạo thành Ngự Hà và hồ Ký Tế. Hai bãi nổi trong hồ này được dùng làm nơi xây dựng kho chứa thuốc súng và diêm tiêu. Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), triều Nguyễn đã huy động tới 8000 binh lính tham gia vào việc cải tạo hồ. Năm 1838, vua Minh Mạng cho di dời hai kho sang phía đông, tái thiết nơi này thành chốn tiêu dao, giải trí và gọi là hồ Tịnh Tâm. Dưới thời vua Thiệu Trị đây được xem là một trong 20 cảnh đẹp đất Thần Kinh.

Tàng thư lâu
Tàng thư lâu là được xây dựng năm 1825 trên hồ Học Hải trong kinh thành Huế, dùng làm nơi lưu các công văn cũ của cơ quan và lục bộ triều đình nhà Nguyễn. Đây có thể coi là một Tàng Kinh Các của Việt Nam dưới triều Nguyễn lưu trữ các tài liệu văn bản quý hiếm liên quan đến sinh hoạt của triều đình và biến đổi của đất nước. Chỉ riêng số địa bạ thời Gia Long và Minh Mạng lưu trữ ở đây đã lên đến 12.000 tập. Có thể nói Tàng thư lâu rất quan trọng trong việc chứa các tài liệu và địa bạ, giấy tờ quan trọng lúc bấy giờ.

Viện Cơ Mật - Tam Tòa
Là cơ quan tư vấn của nhà vua gồm bốn vị đại thần từ Tam Phẩm trở lên, là Đại Học Sĩ của các điện Đông Các, Văn Minh, Võ Hiển và Cần Chánh. Viện lúc đầu đặt ở nhà Tả Vu. Sau khi kinh đô thất thủ năm 1885 phải dời đi đến nhà của bộ Lễ, rồi bộ Binh, và cuối cùng là về chùa Giác Hoàng vùng với toà Giám Sát (của người Pháp) và Trực Phòng các bộ nên gọi là Tam Toà. Hiện nay Tam Tòa nằm ở địa chỉ 23 Tống Duy Tân, thuộc hường Thuận Thành, ở góc Đông-Nam bên trong kinh thành Huế, hiện là trụ sở của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế.

Đàn Xã Tắc
Đàn Xã Tắc được xây dưới thời vua Gia Long vào tháng 4 năm 1806 để tế cúng thần đất (xã) và thần ngũ cốc (tắc). Ví trí Đàn Xã Tắc hiện nay nằm tại phường Thuận Hòa, thành nội Huế, trong ô phố giới hạn bởi 4 mặt: mặt Bắc - đường: Ngô Thời Nhiệm, mặt Nam - đường Trần Nguyên Hãn, mặt Đông - đường Trần Nguyên Đán, mặt Tây - đường Nguyễn Cư Trinh.

Cửu vị thần công
Cửu vị thần công là tên gọi 9 khẩu thần công được các nghệ nhân Huế đúc dưới thời vua Gia Long. Sau khi đánh bại nhà Tây Sơn, khi lên ngôi, vua Gia Long liền cho các nghệ nhân đương thời tập trung tất cả chiến lợi phẩm là binh khí và vật dụng bằng đồng để đúc thành 9 khẩu thần công làm vật chứng cho chiến thắng vẻ vang của mình. Công việc đúc chính thức từ năm 1803 và hoàn thành vào năm 1804.

Theo vi.wikipedia

Tiễn đưa năm cũ, chúc mừng năm mới...


CUNG kính mời nhau chén rượu nồng,
CHÚC mừng năm đến, tiễn năm xong.
.
TÂN niên phúc lộc khơi vừa dạ,
XUÂN mới tài danh khởi thỏa lòng.
.
VẠN chuyện lo toan thay đổi hết,
SỰ gì bế tắc thảy hanh thông.
.
NHƯ anh, như chị, bằng bè bạn,
Ý nguyện trọn đời đẹp ước mong.





Ngày cuối năm rồi cũng đến, ngẫm nhìn lại một năm qua chợt thấy sao nhanh quá - may mà năm nay là tiền đề cho chuyện khởi đầu của cái sự "phượt" mí "bụi" đúng nghĩa!

Thôi thì du lịch nào cũng thế: tour là một sự thư giản toàn diện thì phượt hay bụi gì đó cũng là cách xả stress toàn thân, siêu tự do! Cái nào cũng khoái cả và chắc rằng pà kon cũng dzậy thôi.
Tết năm nay sức khỏe không được tốt lắm nên vắn tắt ít dòng chúc tết cùng pà kon - Mong rằng năm mới sẽ có nhiều chuyến đa đã post lên cho mọi người xem chơi, mong rằng pà kon có nhiều tour độc đáo chia sẻ và phổ biến cho mọi người trong By EmVân Pcworld-com.blogspot.com tích lũy thêm kinh nghiệm.

Chân thành cảm ơn.

Điền Gia Dũng

Bãi Trũ Hòn Tre

Bãi Trũ-Đầm Già là bãi tắm tự nhiên vào loại lý tưởng và đẹp nhất của Khánh Hòa, đặc biệt là độ tinh khiết của nước biển, của bờ cát cùng môi trường xung quanh.

Từ Cầu Ðá, đi thuyền máy đến Bãi Trũ chỉ mất chừng 15 phút. Nên thử cảm giác đi thuyền máy trên biển rất thú vị này.

Vì biển ăn sâu trong vịnh nên sóng rất êm, không lo bị say sóng .

Và dù trên bờ có nắng đến đâu thì khi bước lên thuyền bạn sẽ có cảm giác thoải mái ngay lập tức vì hơi biển phả ra mát dịu. Bãi Trũ là một bãi tắm tự nhiên thuộc hàng lý tưởng. Cát ở bãi này trắng và đẹp lạ lùng.

Dưới làn nước trong vắt, có thể nhìn thấy đáy biển, bờ cát thoai thoải dần khi ra xa. Bãi tắm trên đảo nhưng sóng thường không lớn vì hướng về đất liền, phía sau là núi Hòn Tre như bức tường thành sừng sững ngăn sóng gió đại dương.
Thiên nhiên của Hòn Tre ngay sau khi bạn bước lên khỏi biển đã đập vào mắt và cuốn hút ngay bởi sự kỳ diệu của nó. Trong Bãi Trũ là sườn núi rợp bóng cây.

Khách có thể vừa tắm táp, phơi nắng, dạo trên bờ cát lượm vỏ sò vỏ ốc, đi câu hay lặn hụp săn tôm, câu mực. Và nghỉ ngơi dưới những tàn cây mát dịu kia. Biển, đảo , rừng, núi vây quanh bạn tạo những cảm giác tuyệt vời mà chỉ thiên nhiên mới có thể ban tặng.

Tại Hòn Tre, bạn cũng nên đến các bãi tắm xinh đẹp khác như Bãi Me, Vũng Ngán, Bích Ðầm. Cách bãi tắm chính dành cho du khách không xa có một xóm chài nhỏ nằm khiêm nhường dưới chân núi, khách có thể thăm và tìm hiểu về phong tục làng chài, thưởng thức những trái dừa, hoa quả tươi ngay trên đảo.

Từ tháng 12//2003, nơi đây đã mọc lên khu du lịch, nghỉ mát 5 sao lớn nhất Việt Nam_ Hòn Ngọc Việt, với số vốn đầu tư ban đầu lên đến 450 tỷ đồng, với 500 phòng nghỉ, 3 khu biệt thự độc lập cùng hồ bơi 5.700m2.

Hai năm trở lại đây, Hòn Ngọc Việt đã trở thành một địa điểm hấp dẫn du khách, được quản lý bởi tập đoàn Accor và sử dụng thương hiệu cao cấp Sofitel_ Sofitel Vinpearl Resort & Spa. Hay đến Con Sẻ Tre, một khu nghỉ dưỡng tuyệt vời với những căn nhà nghỉ toàn bằng tre nằm nép bên bờ đảo.

Sau sự kiện vịnh Nha Trang được công nhận là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới vào tháng 6/2003 thì Hòn Ngọc Việt lại càng thêm tỏa sáng nổi bật trên vịnh Nha Trang.

By EmVân Pcworld-com.blogspot.com tổng hợp

Ảnh tếu "Bắc, trung, nam du ký" hồi 3

Tiếp theo hồi 1hồi 2

Dọc đường gió bụi, chắc chắn đôi khi bạn sẽ bắt chợt gặp một cái gì đó tức cười khiến bạn tan biến ngay nỗi nhọc nhằn của kẻ "tabalô" trên bước lãng du.

Thế là click một cái: ảnh vui trên đường cùng chia sẻ cho bao kẻ đang phải "nằm nhà" cùng vui

< "Đá cũng biết... tè" - Có ai đi Thiên Sơn - Suối Ngà không biết còn thấy cái chỗ này không...



< Phía Nam nhìn thấy oải!
< Lâm ly như phim Hàn.
< Cây mít ở Bích Động - Ninh Bình.
< Thứ gì cũng có super!
< Thử sơi để biết món gì...
< Chơi cha!
< Ảnh kh_ỏa thân (chụp tại Ba Vì).

< Nòng pháo.
< Thạch nhũ ở động Phong Nha.
< "Xe xin số" xưa rồi!
< Đi hay ngừng thì tùy hỉ.
< !
< Chuyên... chim.
< Nhiễm Kim Dung.
< Thực tế?
< Tại thánh địa Mỹ Sơn.

(Nguồn TTVNOL)