Hoang sơ Sơn Đừng

Năm 2002 , khi con đường Đầm Môn-Cổ Mã nối liền Quốc lộ 1A, từ dưới đèo Cổ Mã, băng qua rừng bần cổ thụ Tuần Lễ, qua những đồi cát trắng đến bán đảo Đầm Môn, thuộc xã Vạn Thạnh, Vạn Ninh, Khánh Hòa mở ra. Đó là chiến lược nhằm khai thác tiềm năng của Vịnh Văn Phong trong tương lai, đồng thời tourr du lịch Vịnh Văn Phong cũng bắt đầu đông khách. Vịnh Văn Phong với phong cảnh đa dạng gồm những đồi cát xa tít mắt,những rạn san hô còn nguyên vẹn thỏa lòng cho du khách tham gia tourr lặn biển ở Bãi Me. Khách còn có thể thức dậy sớm trong ngày thong thả để thưởng thức cảm giác đón tia nắng đâu tiên chiếu rọi của một ngày mới. và một nơi ai cũng được tàu chở đến để khám phá, mọt làng biển rất nhỏ mang tên Sơn Đừng.

Có nhiều lý do để đến Sơn Đừng. Bởi ngày cả việc chiếc tàu chở khách đi, để sửng sờ khi gặp những  tảng đá thiên nhiên mang dạng hình các loại thú, gặp những vách núi cây cỏ bám níu, và gặp một không gian đằm thắm đến lạ đã là điều thú vị.

Sơn Đừng ấy hiện cũng đang bắt đàu làm du lịch theo cách của một người dân biển, bởi hàng ngày, trong cuộc hành trình nhìn ngắm Vịnh Văn Phong, những con tàu chở khách từ mọi nơi trên đất nước, cả những người khách nước ngoài cũng luôn tò mò tìm đến.

Làng biển Sơn Đừng không to và không đông dân . Chỉ là một làng nhỏ với 14 nóc nhà , có vài nhà xây gạch tươm tất, dựa vào vách núi. Bên phải là một bãi đá tuyệt đẹp thuận lợi cho việc tắm biển.

Sau làng là ngọn núi với những triền cát. Trước mặt làng là biển , mà khi triều rút, lộ ra bãi cát trắng mịn , sạch sẽ dài cả mấy chục mét. Đó là nói chuyện hôm nay, còn khi tôi đến đây vào năm 2003 thì tại đây chỉ có 10 hộ dân.

Sơn Đừng không có đường đi, tất nhiên không có cả xe máy, xe đạp. Con đường chính men theo bãi biển vào làng có khi nước lên bị gặp khó khăn, còn đi qua các nhà dân là đường bằng cát biển, tải san hô cho dễ di chuyễn.

Làng cũng có một câu chuyện “ cổ tích” về mình. Đó là  ngày xưa có một nhóm người thuộc dân tộc Đàng Hạ, trong một lần bị đắm thuyền  đã trôi dạt vào làng này mà sinh sống.  Thời đó họ chẳng có quần áo để mặc nên dùng lá cây làm trang phục.
Có những người con trai, con gái lớn lên chọn cách lìa vùng biển buồn tênh này đi về phố lập nghiệp. Nhưng cũng có những người vì tình yêu mà chọn đến chốn này sinh sống. Hiện nay làng có trên 20 trẻ đang độ tuổi đi học, và vì thế một lớp học cho đủ loại tuổi do các chiến sí thuộc Đồn biên phòng 358 giãng dạy đã hình thành.

Người dân Sơn Đừng sống rất nhiều nghề. Nuôi tôm hùm, đánh bắt mực, cá, lên rừng đốn củi và nghề trồng điều, trồng cây ăn trái. Giờ đây, họ thêm công việc làm du lịch. Bởi nhu cầu của những người khách du lịch ghé qua, đôi khi chỉ một hoặc hai giờ mổi ngày.

Sự hấp dẫn đàu tiên ở Sơn Đừng mà bất cứ ai tìm tới cũng muốn khám phá chính là nguồn nước ngọt ngay trên bãi biển. Ý thức được nguồn tài nguyên du lịch này cho nên người dân Sơn Đừng bảo vệ triệt để bãi biển trước mặt làng. Khách luôn tò mò là tại sau nước biển mặn , mà chỉ đào nhẹ nhàng một hố sâu chừng một gang tay là nước ngọt lịm. Công việc biển diễn đào “giếng” được những đứa trẻ làm rất thuần thục cho du khách xem.

Huyền thoại hư thực cho rằng khi vua Gia Long trong quá trình   đến đây khi thau trận quân Tây Sơn, đã đào thử một hó nước ngay bãi cát trên mép nước biển. Thế là điều kỳ diệu đã xảy ra là nước ở đây là nước ngọt. Điều kỳ diệu đó cũng ở lại mãi đến hôm nay, giúp cho người dân Sơn Đừng có nước uống và có sản phẩm giới thiệu với khách du lịch. Và vì thế, người dân đã lập một đền thờ nhỏ để thờ vua Gia Long. Và không hiếm du khách mang một chai nước ở Sơn Đừng đem về.

Sơn Đừng cũng chẳng có hàng quán, nhưng giờ đây nhiều người đã thả lồng nuôi tôm, cua cá trên biển để phục vụ cái thú ăn uống của khách.

Đến Sơn Đừng , neo thuyền vào một gốc cây, hay đôi khi vì nước cạn, phải “ nhảy xuống” nền cát để vào bờ. Đi vào những căn nhà của người dân, trò chuyện hồn nhiên. Thích thì có thể ra sau làng, leo lên khu rừng trên đồi cát để có cảm giác chinh phục.

Theo người dân tại đây , ra bè đang để trên biển , lựa tôm cá mà mua. Rồi cách chế biến cũng chẳng cầu kỳ. Có thẻ chỉ là xào nấu hay nướng bên bếp củi đỏ lửa, ăn theo kiểu dã chiến, uống bia hay rượu. Trong lộng gió thơm mùi đại dương trong Vịnh Văn Phong, cảm giác ấy là cảm giác cực kỳ kỳ thú. Tất nhiên, vẫn có thể cập thuyền ngay bãi đá xinh đẹp, cùng bơi lội , đùa giỡn với biển cho hết một ngày lộng lẫy.

Khuê Việt Trường

Đầm Chuồn đêm ngàn sao

Đầm Chuồn không xa lắm, bởi chỉ mười cây số đi xe máy từ trung tâm thành phố Huế là đến nơi. Trên đường đi, tiện thể ghé qua làng Chuồn (xã Phú An, Phú Vang, Huế) đong vài xị “đệ nhất danh tửu”, chọn một vài đòn bánh tét đặc sản lúc nào cũng có ở chợ làng này.

Ra đến bến đò Đồng Miệu, mấy anh bạn lái thuyền cặp đôi hai chiếc ghe nan, đủ chỗ cho tám người, gắn máy đuôi tôm hẵn hòi. Khuôn mặt khách háo hức, bởi trừ hai anh bạn thuyền “thổ địa”, những người còn lại đều lần đầu được rong chơi giữa vùng đầm phá bao la này.

Con thuyền phăng phăng lướt sóng. Anh bạn lái thuyền khéo léo điều khiển thuyền luồn lách giữa đám “nò” sáo ken dày như bàn cờ trên mặt phá, lúc rẽ phải, lúc rẽ trái, chuyển hướng điệu nghệ như một tay lái “lụa” điều khiển xe hơi giữa thành phố đông đúc với nhiều ngã ba, ngã tư.

Nửa giờ sau, thuyền đến nơi và cặp vào một nhà “chồ” (nhà tạm trên sông). Hai ông thổ địa bảo, việc đầu tiên thú vị nhất là đi giở nò (đổ nò).

Chiếc nò hình trụ, được làm bằng tre đan, đặt ở đầu chóp hình chữ V của các tấm sáo trên mặt phá với độ sâu chừng hai mét. Anh bạn thuyền khỏe mạnh, bặm môi kéo nò lên, tôm cá thi nhau quẫy đạp. Mọi người háo hức, lăng xăng chuẩn bị cho bữa tiệc đầy hứa hẹn.

Rượu làng Chuồn được rót ra, mùi ngất ngây của loại “đệ nhất danh tửu” này quyện với mùi cá tươi thoang thoảng hình như đã kích thích bụng dạ mọi người đói cồn cào. Vừa nhấm nháp thưởng thức, vừa xuýt xoa khen ngon, anh bạn quả quyết rằng, ăn con cá trên suốt dọc chiều dài đất nước, không ở đâu ngon bằng cá trên phá Tam Giang, bởi nó có mùi... đầm phá. Một anh khác giải thích thêm, đó là nhờ mùi rong tảo đặc trưng, chỉ có ở vùng nước lợ... Mùi của biển, mùi rong tảo đầm phá vừa quen vừa lạ, phảng phất đâu đây. Đêm khuya, nước trời lồng lộng, không còn xác định được phương hướng nữa.

“Trăng lên!”. Ai đó reo. Mảnh trăng thượng tuần được mắc sẵn trên bầu trời, ánh bạc lấp lóa trên mặt nước. Phong cảnh đẹp lạ lùng. Không khí loãng ra. Mấy xị rượu và bánh tét làng Chuồn đã đưa mọi người vào trạng thái lâng lâng rồi nhanh chóng rơi vào giấc ngủ sâu.

Gió biển mơn man nhè nhẹ, mang theo cảm giác se lạnh, tưởng chừng như mùa hè oi bức đã rời xa. Giữa vùng đầm phá mênh mông bốn bề sóng nước, đêm trên nhà chồ thoáng mát, hư ảo trong một khung cảnh khá lạ lùng, bỗng quên mùa hè hanh hao miền Trung.

Người Huế gọi đêm ngủ nhà chồ trên phá Tam Giang là đi ngủ “khách sạn nghìn sao”. Ranh giới giữa trời và nước không còn. Chỉ tiếng sóng vỗ về mạn thuyền nghe rì rào, và thi thoảng có tiếng quẫy của con cá hanh, cá kình. Tam Giang nay đã hòa vào dòng chảy của đời người...

Theo Dulichtuoitre

Ngược dòng thời gian - NSƯT Hồng Liên




                                                    DVD sắp ơhát hành trong thời gian tới!


Suối Lồ Ồ - Ninh Thuận

Suối Lồ Ồ thuộc xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Nằm phía Đông Bắc thành phố Phan Rang – Tháp Chàm (Ninh Thuận), suối Lồ Ồ thuộc hệ sinh thái Vườn quốc gia Núi Chúa.

Trước khi đến suối, du khách vượt qua con đèo đẹp đến nao lòng, có nhiều đoạn nhìn thấy đại dương xanh biếc màu nước biển và những bãi cát thoai thoải...

Qua cây cầu treo đặc trưng của đồng bào dân tộc thiểu số miền Trung, leo lên con dốc vài nơi gập ghềnh đất đá, tiếp đến là con đường tráng xi măng rộng khoảng 2m tới thôn Cầu Gãy - nơi ở của đồng bào dân tộc Raglay.

Bà con Raglay có khoảng 200 người sống trong những căn nhà đơn sơ nép mình trong bóng mát những cây điều cùng một số cây ăn trái khác. Đồng bào sống chủ yếu bằng việc thu hái cây thuốc, lá nón, sâm nam, song mây...; từ tháng 7 đến tháng 10 Âm lịch, họ hái trái trám, treo, da đá, dâu... trong rừng.

Con đường xi măng ngược dốc đưa du khách đi xuyên hai bên cánh rừng vùng đệm của Vườn quốc gia Núi Chúa. Vườn quốc gia Núi Chúa có diện tích tự nhiên 29.865ha, trong đó diện tích trên đất liền 22.513ha, nằm gần cuối dãy Trường Sơn và vùng Đông Nam Bộ (trước đây là Khu bảo tồn thiên nhiên Núi Chúa).

Phân bổ trên phức hệ núi nằm sát bờ biển tạo nên một thắng cảnh đẹp hiếm có vùng ven biển với 18 bãi biển có cảnh quan rừng như: Bình Tiên, Vĩnh Hy, Thái An, Rạng, Thùng...

Ninh Thuận được xem như là “sa mạc” của Việt Nam do nằm khuất ngọn gió gây mưa chính, nên rất hiếm mưa, có những bình nguyên cát. Nhưng điều đặc biệt là xứ này lại có rừng nguyên sinh.

Có dịp đến đây, du khách tưởng mình đặt chân lên đất châu Phi khi nhìn thấy những cụm cây thấp chừng 2-3m, đa số là cây có gai. Suối

Truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa, trong những đêm trăng thanh gió mát, có một nàng tiên thường đến tắm giữa vùng Vịnh Vĩnh Hy. Có một chàng ngư phủ giăng câu trên Vũng Găng (tên gọi Vĩnh Hy xưa) vài lần nhìn thấy nàng tắm, lòng xao xuyến trước sắc đẹp mê hồn của nàng. Một đêm trăng kia, không kềm chế được lòng mình, anh ngư phủ bất thần xuất hiện trước nàng tiên. Từ đó hai người gắn kết duyên phận, nàng tiên ở lại trần gian.

Một đêm tối trời nọ, anh ngư phủ dong thuyền đánh cá vùng Đá Vách, gặp một cơn giông lớn nổi lên, không trở về. Nàng tiên lên núi Chúa mòn mỏi đợi chờ, dòng nước mắt của nàng tuôn chảy khôn nguôi, tạo thành dòng suối Lồ Ồ ngày nay.

Suối Lồ Ồ ẩn mình trong những tán cây rừng cao ngút mắt được tạo thành nhiều bậc, mỗi bậc cao độ 5m với những tảng đá to. Có những tảng đá to được gọi là những “chiếc giường đá” và “bàn đá”. Đây là nơi khách rất thích thú nằm lên thư giãn để hơi đá hoa cương mát lạnh thấm vào người. Ngồi lên một tảng đá, thả chân xuống suối, khách cảm nhận làn nước mát lạnh ngấm vào da thịt rất thú vị, càng thêm sảng khoái nếu thả mình ngâm trong suối.

Nước suối trườn qua người như massage làm cho người ta khoan khoái. Sau những phút giây ngắm cảnh, ngâm suối, mọi người quây quần bên chiếc “bàn đá” thưởng thức hải sản mang theo. Nếu có dịp ngủ lại một đêm nơi đây: nằm đung đưa trên cánh võng nghe tiếng suối reo hòa cùng tiếng chim hót líu lo, trong ánh lửa bập bùng của những cành cây khô chụm lại tỏa hơi ấm sảng khoái là cảm giác thú vị hiếm có trong đời.

Theo Vemaybayre

Một số điều lưu ý khi vào thăm bản dân tộc.

Dưới đây là một số điều lưu ý tớ thấy rất cần biết khi dân tình mình đổ sô đi phượt vùng cao. Người dân bản rất thân thiện và cởi mở nhưng nếu không rõ những phong tục tập quán của họ: bạn rất dễ làm mất đi những cảm tình của dân bản dành cho bạn mà bạn đang muốn gây dựng và củng cố.

Một số những lưu ý này sẽ giúp bạn trước khi bạn thực hiện hành trình du lịch đến với những miền đất bí ẩn đầy hấp dẫn:

Trên đường vào bản:

Khi vào bản, làng, vào nhà dân, nếu trên đường có cắm "lá cây xanh" hoặc cắm "cọc dấu" thì không nên vào. Vì dân làng (hoặc chủ nhà) đang kiêng người lạ đến.

Khi đã đến với dân làng (hoặc trong nhà dân) cần lưu ý những điểm sau:

Ứng xử đối với thiên nhiên:

+ Không vào khu rừng kiêng, rừng cấm.
+ Không làm mất vệ sinh nơi có nguồn nước sinh hoạt.
+ Không chặt phá cây đã được dánh dấu.
+ Không lấy măng, mộc nhĩ, tổ ong khi đã có người khác đánh dấu sở hữu.
+ Không bẻ mầm non dang mọc.

 Ứng đối với cộng đồng:

+ Khi vào nhà không được đi thẳng một mạch từ (cầu thang lên nhà) đầu nhà vào bếp trong - thường có 2 bếp, 1 bếp ngoài dành cho khách)
+ Không ngồi vào cửa móng (cửa sổ gian tiếp khách).
+ Không ngồi ngay vào đệm ngồi khi chủ nhà chưa mời ( thường dành cho bề trên và khách quý).
+ Không ngồi dạng chân (mất lịch sự).
Khi ngồi cạnh bếp lửa:

+ Không được dùng chân đẩy củi vào bếp.
+ Không được đút ngược ngọn tre, luồng, cây củi và bếp (quan niệm đẻ ngược).
+ Không nướng cơm, đồ ( xôi) vì quan niệm mất mùa.
Khi đi ngủ:

+ Không nằm ngủ dọc theo đòn nóc nhà (chỉ người chết mới được nằm như vậy).
+ Không nên mắc màn trắng vì lộ liễu
+ Không ngủ dậy quá muộn (vãi chướng).
+ Không được ngủ dưới bàn thờ.
Khi tiếp xúc với dân:

+ Cần tránh gọi các từ khiếm nhã như Mèo, Mán (Nên gọi là đồng bào Mông, Dao).
+ Không nên nói quá to với cử chỉ gay gắt. Luôn cười khi gặp họ vào chào hơi nghiêng đầu.
+ Không tranh cãi với người già, phụ nữ và trẻ em.
+ Không xoa đầu trẻ em đồng bào Mông (vì sợ mất vía), nên mang theo ít bánh kẹo khi gặp trẻ em.
- Khi ngồi ăn cơm cần chú ý:
+ Không ngồi ngang hàng với người già nhất trong mâm (nếu chủ nhà không mời).
+ Không ngồi trước và quay lưng vào bàn thờ.
+ Không gắp đầu gà chân gà, gan gà trước khi chủ nhà mời (thường để chung một đĩa với dụng ý để khách chứng kiến lòng thành của chủ nhà).
+ Khi ăn không nên vừa ăn vừa nói quá to.
+ Đừng nên chụp hình thẳng vào cuộc sống khi có người nhìn.
Khi vui chơi:
+ Không nên thổ lộ tình cảm thái quá với phụ nữ đã có chồng, con gái đã có người yêu, phụ nữ goá chồng
+ Khi uống rượu cần phải mời mọi người xung quanh, không nên cầm uống ngay.

Ngoài ra, còn một số điều kiêng kỵ khác trong các nghi lễ như chọn đất làm nương rẫy, chọn ngày dựng nhà, chọn ngày cưới hỏi vợ chồng, kiêng cữ khi phụ nữ mới sinh, trong nhà có người mất hay các lễ thức cúng bái khác trong sinh hoạt cộng đồng.

Theo Forum Phuot.com

Con gái đi phượt!

"Cho dù phải vượt qua chặng đường dài gấp 2-3 lần thì cũng phải cố để 1 lần trong đời thấy cảnh hoàng hôn hùng vĩ đến thế. Nếu cả đời đi du lịch trên ô tô, lên là ngủ hoặc nói chuyện vật vờ thì chẳng bao giờ thấy được những điều tuyệt vời của thế giới và cuộc sống".

Cao Bằng “phượt” ký

Không kịp đợi tỏ mặt người, quyết định lên đường đã được đưa ra. Tiếng xe máy rộn lên kích thích. Tạm biệt Hà Nội chỉ lát nữa thôi lại sục sôi nhịp sống đô thị, chúng tôi vượt sông Hồng còn ngái ngủ với lãng đãng sương giăng, theo quốc lộ 3 bắt đầu hành trình tới biên giới phía bắc mà điểm đến là đất Cao Bằng.

Qua Thái Nguyên, cảnh vật dần có hương vị thô mộc của núi rừng. Trước mũi xe là đồi cọ, mây trắng và những cánh chim vút bay trên bầu trời cao rộng. Không khí sạch trong, hứng khởi khiến ai nấy dễ dàng quên đi bon chen thường nhật, quên đi cuộc sống tù túng giữa phố phường.
Vượt đèo Giàng, đèo Gió - những đồn bốt tự nhiên án ngữ cửa ngõ Cao Bằng, cả nhóm không khỏi say lòng trước vệt cong tuyệt mỹ của cung đường bám theo sườn núi, trước lau lách bên lề và phía xa thăm thẳm thung sâu. Đèo Giàng, đèo Gió quyến rũ bằng nét hoang sơ, phóng khoáng, xứng đáng là chương đầu câu chuyện dài được viết bởi miên man cảnh sắc sơn thủy hữu tình vùng non nước Cao Bằng.

Đêm thị xã, sau trận rượu lâng lâng, nhóm tiếp tục chạy lên Nà Giàng ngủ nhà anh bạn làm lính biên phòng, để sáng hôm sau, khởi đầu ngày mới bằng bát phở vịt béo ngậy tại quán ông chủ người Tày.

Từ đây, chỉ thêm khoảng 30 km tới xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, chúng tôi đã có thể thực hiện tua thú vị thăm mộ anh Kim Đồng và cội nguồn Pác Bó, nơi Bác ở suốt thời kỳ đầu khi trở về nước năm 1941.

Đường đang được mở rộng nên khắp nơi đất cát ngổn ngang, bụi tung mù trời mỗi lúc xe qua. Quay lại ngã tư Đôn Chương, rẽ trái theo đường trục 210 hướng Nặm Nhũng, Tổng Cọt để xuyên sang huyện Trà Lĩnh, cả nhóm sững người trước cung đường đẹp như mơ hiện ra bên sườn núi.

Nhưng sau khúc dạo đầu hấp dẫn, đoạn tiếp theo là sự thử thách với đá to đá nhỏ rải khắp nơi, khiến chúng tôi vất vả và...sung sướng, hoàn thành 40 km đường trong hơn 2 tiếng đồng hồ.
Trưa Trà Lĩnh, lại tái diễn cuộc rượu đón khách theo phong cách vùng cao làm một số thành viên trong đoàn mất sức chiến đấu.

Anh bạn công tác ở thị trấn xuýt xoa nếu đoàn tới từ hôm trước sẽ dẫn đi Cổng Trời. Nghe nói vào 12 giờ đêm, dân tứ xứ đến xin lộc như mắc cửi, đông đến mức chỉ “chen được một chân”...Chúng tôi cũng đành lỗi hẹn thắng cảnh hồ Thăng Hen do kế hoạch tối ngủ Trùng Khánh đã lên chắc như đinh.

Sang ngày thứ 3, nhật ký Cao Bằng mở đầu bằng chầu ảnh tại cửa khẩu Pò Peo. Không “hoành tráng” như Móng Cái (Quảng Ninh) hay Tân Thanh (Lạng Sơn), Pò Peo gây ấn tượng bằng “hệ thống” cột mốc dày đặc với 5 mốc chính, mốc phụ san sát trên đoạn đường biên ngắn, “giúp” đưa khu vực quanh cửa khẩu heo hút này vào tốp đầu những điểm phức tạp khi phân giới của tuyến Việt - Trung.
Từ Pò Peo đến bản Đầu Cầu, rẽ trái theo đường đất nhỏ chạy tắt sang trục lộ 206, chúng tôi tiếp tục bị chinh phục bởi danh thắng Ngườm Ngao, Bản Giốc... Ngườm Ngao (động Hổ) là tuyệt phẩm của nhũ đá tự nhiên nằm trên địa bàn xã Đàm Thủy. Vé vào cửa 20 ngàn nhưng bạn có thể tham quan hoàn toàn “free”...trong bóng tối, vì ban quản lý sẽ không... bật đèn.
Thêm vài cây số ngược Ngườm Ngao, đoàn lên Bản Giốc - thác nước quyến rũ nhất trời Nam. Mùa này khách Việt thưa thớt. Tua phía Trung Quốc nhộn nhịp hơn với dăm bè mảng chở người chạy gần chân thác. Cách không xa, dân Tàu còn xây khu nghỉ dưỡng ngay sườn núi. Anh biên phòng Trạm kiểm soát thác Bản Giốc cho biết chỉ riêng vé vào khu nghỉ này đã là 80 tệ (khoảng 200 ngàn tiền Việt).
Xuôi sang huyện Hạ Lang, chúng tôi có thêm cung nhỏ thú vị dọc sông biên giới Quây Sơn. Từ đây, qua Bằng Ca, theo trục lộ 207 đến Quảng Uyên, hòa vào quốc lộ 3 đi Tà Lùng là con đường mơ mộng đủ sức thỏa mãn tay máy khó tính nhất...Cuối ngày, cả nhóm được phen offroad khác khi quyết định bỏ Tà Lùng, một trong những cửa khẩu đẹp nhất biên giới phía Bắc, rẽ phải tại ngã ba Nà Rài chạy hướng Đông Khê. Đoạn đường vẻn vẹn 20 km ngốn của chúng tôi hơn tiếng rưỡi đồng hồ nhưng hào phóng bù lại bằng phong cảnh hoang sơ và ánh chiều tê buốt như ở thuở hồng hoang...

Tối đó, cuộc phượt đê mê còn kéo qua Thất Khê, Na Sầm đến điểm dừng ngủ đêm là thị trấn Đồng Đăng (Lạng Sơn), để sáng ra mua sắm tại chợ cửa khẩu Tân Thanh, chụp ảnh Hữu Nghị Quan trước khi quay về Hà Nội...Gần 1.000 km, 4 ngày 3 đêm với tâm điểm kính ngắm miền Đông Cao Bằng, khi lạnh cứng trên đèo Gió, xóc bay người tại Tổng Cọt, hay lúc say sưa ngắm mây trời Bản Giốc...Tất cả, giúp chúng tôi trải nghiệm, khám phá, để thấy thêm yêu những cung đường trên dải đất hình chữ S tươi đẹp này.

Theo Tin247